晚泊湘江作

煙浪瀁秋色,
高吟似有鄰。
一輪湘渚月,
萬古獨醒人。
岸濕穿花遠,
風香禱廟頻。
只應諛佞者,
到此不傷神。

 

Vãn bạc Tương giang tác

Yên lãng dạng thu sắc,
Cao ngâm tự hữu lân.
Nhất luân Tương chử nguyệt,
Vạn cổ độc tỉnh nhân.
Ngạn thấp xuyên hoa viễn,
Phong hương đảo miếu tần.
Chỉ ưng du nịnh giả,
Đáo thử bất thương thần.

 

Dịch nghĩa

Khói sóng toát ra vẻ thu,
Ngâm thơ lớn như cho người đã khuất nhưng gần bên nghe.
Một vầng trăng tròn treo trên bãi sông Tương,
Như soi sáng con người muôn đời thức tỉnh.
Bờ sông ẩm thấp nên cây có hoa mọc lan xa,
Gió đưa hương thơm như giúp người đến cầu xin ở miếu hoài.
Chỉ có bọn ưa phỉnh nịnh,
Tới đây mới không làm phương hại tới thần nơi miếu.


Tiêu đề có bản chép là Tương giang hoài cổ. Sông Tương phát nguyên từ núi Hưng Hải trong huyện Hưng An, tỉnh Quảng Tây, chảy hướng đông bắc qua tỉnh Hồ Nam để vào hồ Động Đình.

Nguồn: Đường thi tuyển, Mã Mậu Nguyên, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1999

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Vẻ thu thấy từ nơi khói sóng
Ngâm thơ to cho bóng gần nghe
Sông Tương vầng nguyệt tròn vo
Như soi kẻ thức tỉnh cho muôn đời
Bờ sông ẩm hoa dời xa ngạn
Gió đưa hương cho đám người cầu
Kẻ ưa phỉnh nịnh cho dầu
Đến đây cũng chẳng hại đâu thánh thần.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Sóng sương toát vẻ màu thu,
Ngâm thơ người khuất gần như nghe liền.
Sông Tương vầng nguyệt treo triền,
Như soi thức tỉnh người riêng muôn đời.
Bờ sông hoa cỏ sinh sôi,
Gió đưa hương giúp người đời cầu xin.
Bọn ưa phỉnh nịnh miếu đền,
Tới đây không hại thần hên miếu nầy.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời