Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Phổ liên cách - Hạ từ

Càn khôn tăng uất áo,
Thảo lý thanh oa náo,
Chi đầu hàn thiền táo,
Thanh thanh đỗ vũ[1] não,
Á á hoàng oanh lão.
Tần tương cáo:
Chúa xuân kim quy liễu, như hà hảo?
Giá ban cảnh sắc, thiêm khởi nhất phiên lao thảo.
Hạnh Chúc Dung quân, cổ nhất Nam huân.
Thám hoa tống hạ hương đáo.
Tiền độ thương tâm, tuỳ phong tận hảo.


Bài từ này do Đoàn Thị Điểm chép trong Vân Cát thần nữ truyện viết về Liễu Hạnh công chúa. Chưa rõ truyện và bài từ do chính bà hay ai sáng tác.

Chú thích:
[1]
Đỗ vũ: Chim đỗ quyên 杜鵑 còn gọi là đỗ vũ 杜宇, tử quy 子規, hay chim cuốc, là một biểu tượng mang đậm màu sắc bi thương. Theo truyền thuyết Trung Hoa chép trong sách Hoa Dương quốc chí phần Thục chí, vua nước Thục thời Chiến quốc tên là Đỗ Vũ, Tử Quy, về sau xưng đế gọi là Vọng Đế 望帝. Do ông tư thông với vợ đại thần Miết Linh 鱉靈, bị lộ tẩy nên hổ thẹn mà nhường ngôi cho Miết Linh. Miết Linh lên ngôi lấy hiệu là Khai Minh, ngược đãi Đỗ Vũ khiến ông uất ức bỏ nước ra đi rồi qua đời trong cay đắng. Sau khi chết, hồn của ông vẫn nhớ nước cũ nên hoá thành chim cuốc suốt ngày đêm cất tiếng kêu khắc khoải “quốc quốc” (nghĩa là đất nước) trong lùm cây, tới mức khoé miệng ứa máu. Những giọt máu rơi xuống hoá thành những bông hoa đỏ thắm, cũng gọi là hoa đỗ quyên. Chim cuốc thường kêu nhiều vào tiết cuối xuân sắp chuyển sang hè, cũng là khi hoa đỗ quyên nở rộ. Trong văn học cổ phương Đông, chim đỗ quyên thường được dùng để thể hiện nỗi hoài cổ về nước cũ đã mất hoặc nỗi lòng của lữ khách tha hương, như trong câu “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc” (Qua Đèo Ngang, Bà huyện Thanh Quan); hoặc miêu tả bi kịch kiếp người và sự xót xa cho thân phận con người lận đận, như trong câu “Đỗ quyên đề huyết, viên ai minh” (Tỳ bà hành, Bạch Cư Dị); hoặc đơn giản là chỉ thời điểm cuối xuân sắp vào hạ, như trong câu “Dưới trăng quyên đã gọi hè, Đầu tường lửa lựu lập loè đơm bông” (Truyện Kiều, Nguyễn Du).

Chim cuốc (đỗ quyên)
Hình: Chim cuốc (đỗ quyên)

Chim cuốc (đỗ quyên)
Hình: Chim cuốc (đỗ quyên)

Chim cuốc (đỗ quyên)
Hình: Chim cuốc (đỗ quyên)



[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Khuyết danh Việt Nam

Khí giời thêm bức bối,
Cóc nhái kêu trong bụi,
Ve kêu sầu trên cỗi,
Quyên gọi hè khắc khoải,
Oanh hót chiều sôi nổi,
Cùng nhau hỏi:
Xuân nay đâu mà tiết giời đã đổi?
Nhường này cảnh sắc lại thêm một phen bối rối.
May thần Chúc Dung, gảy một khúc “Nam huân”.
Thơm ngát mùi sen tới,
Phiền não ngày xưa, đưa cơn gió thổi.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
tửu tận tình do tại
☆☆☆☆☆ Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phan Kế Bính

Giời đất nhiều phần nóng bức,
Bãi cỏ ếch rộn rực,
Đầu cành ve kêu nhức.
Tiếng quốc nghe hậm hực,
Giọng oanh thêm náo nức,
Dường tấm tức:
Chúa xuân về rồi ấy mới cực!
Kìa kìa cánh sắc,
Ngao ngán lòng người quá sức.
May đâu Chúc Dong, gẩy một khúc đàn giải nực,
Thoảng mùi sen thơm phức.
Một trận gió bay,
Sạch nỗi buồn bực.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
tửu tận tình do tại
☆☆☆☆☆ Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Nhiều phần nóng bức đất trời,
Đầu cành ve rộn ếch thời kêu vang,
Tiếng nghe hậm hực quốc than,
Giọng oanh thêm náo nức càng nổi sôi,
Trong lòng ấm ức hỏi thôi
Chúa xuân đâu vắng tiết trời đổi thay,
Kìa kìa cánh sắc ban ngày,
Ngán ngao quá sức lòng người cảnh xuân.
Chúc Dong, gẩy khúc Nam huân,
Thoảng mùi thơm phức mấy tuần gió bay.,
Một cơn sạch nỗi buồn ngay.
Ngày xưa phiền não, ngày nay thoáng buồn.


☆☆☆☆☆ Chưa có đánh giá nào
Trả lời