Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

I - Đinh Công Trứ khấn giời sinh thánh
Trần ai khôn kẻ biết thay,
Đất lành Gia Viễn giời rày giáng sinh.
Tên là Bộ Lĩnh thông minh,
Cha xưa thứ sử nhậm thành Hoan Châu.
Là Đinh Công Trứ thuở xưa,
Đế vương trưng dấy, giời đà giáng sinh.
Đinh Công thuở nhậm Hoan thành.
3610. Biết một hiền lành, chẳng chút gian tham.
Thấy đời loạn lạc bắc nam,
Những kẻ ngu phàm, chẳng kẻ hiền minh.
Thuở nào cứu được thương sinh,
Tá tài thiển lậu sở danh bình thường.
Đêm đêm từng dậy đốt hương,
Nguyện giời sinh thánh cứu phương dân này:
“Tôi dầu có phúc mai ngay,
Nguyện cùng thiên địa, chớ riêng chi là.
Tôi dầu ít chính nhiều tà,
3620. Nguyền nương sức khác để ra trị đời.”

II - Vợ thấy mộng lạ đẻ con giai
Phu nhân vừa thuở canh hai,
Mộng thấy một người cao cả trượng phu.
Cong tay cầm cái tỉ phù,
Đến khiến mày mò xin làm mẹ con.
Nàng từ sực thức trướng Loan.
Lấy chiêm bao ấy mới toan cùng chồng.
Đinh công nghe biết mừng lòng,
Càng tu đức trước để phòng thân sau.
Phu nhân từ động thai bào,
3630. Kỳ kể mong hầu mười tháng sinh ra,
Được một nam tử bằng hoa,
Đinh công mừng rỡ, hoà nhà dưỡng nuôi.

III - Đinh Công Trứ từ trần
Hay đầu tuần vận ở giời,
Vậy nên ách nước bời bời can qua.
Phải thằng Công Tiễn gian tà,
Đinh công từ chức, về nhà Hoa Lư.
Con còn trứng nước ngây thơ,
Đặt tên Bộ Lĩnh để chờ nối tông.
Ai ngờ vận cả Đinh công,
3640. Giã đời phút hoá giấc nồng Trang Chu.
Nàng từ goá bụa bơ vơ,
Quan thanh nhà khó, con thơ sẩy chồng.
Hoà thêm binh cách chiến phong
Cửa nhà đói kém, hầu mong cậy gì?
Làm nghề buôn bán kẻ quê,
Nuôi con cả nhớn, dạy nghề làm ăn.

IV - Đinh Bộ Lĩnh nhớn lên không theo nhờ mẹ dạy
Ngô vương dẹp được xa gần,
Giết thằng Công Tiễn, cứu dân thời loàn.
Mẹ con mừng được ở an,
3650. Muôn dân đều khỏi lầm than từ rày.
Những màng lần lữa tháng ngày,
Bộ Lĩnh tuổi rày đã đến mười hai.
Thanh cao tính khí khác người,
Bàn bạc sự đời mấy kẻ trượng phu.
Cửa nhà chút chẳng đoái lo,
Sự bé hồ đồ, sự cả hẳn hoi.
Việc vàn chẳng có thông coi,
Những lăm ra đời mà lập công danh.
Rằng người đã vả giời sinh,
3660. Phú quý đã đành, sang trọng đã chia.
Lọ là săn sóc làm chi?
Nên thì xẻ lấy, nên thì nở nang.
Lững lờ dại chợ đến làng,
Đánh đàn đánh đố cùng phường chăn trâu.
Mẹ thương nuôi nấng bấy lâu,
Đói no chẳng quản, chảo rau chẳng hiềm.

V - Đinh Bộ Lĩnh cùng lũ trẻ chăn trâu tập làm nghi vệ thiên tử
Đông gia có một làng giềng,
Thấy chồi bèn mới dỗ khuyên rằng vầy:
“Ngồi dưng cũng huống công nay,
3670. Chăn trâu qua sẽ tính ngày bả công.”
Sự may hẳn khéo xui lòng,
Ngày những ra đồng cùng trẻ chăn trâu.
Quay cùng phụ cận đánh nhau,
Bạo âu như sói, mạnh âu như hùm.
Một mình chịu trăm chịu nghìn,
Tiên binh cầm gậy như tên xông vào.
Đuổi khua chúng dạt như bèo,
Chúng hãi chúng đều bầu làm đàn anh.
Họp nhau những trẻ tênh tênh,
3680. Nhỏ làm quân quốc, nhớn tranh tước quyền.
Bốn người cũng nghĩ có quân:
Nguyễn Bạc, Đinh Điền, Trịnh Tú, Lưu Cơ.
Toan nhau nói sự mở đồ:
“Tập tành nhớn dạy thì vừa chúng ta.
Giời cho làm chủ quốc gia,
Quây trong tập sẵn dễ hoà trị dân “.
Hoa Lư đạm biết mấy lần,
Lau làm đài các, công ngăn luỹ thành.
Đặt làm có cơ, có doanh,
3690. Có quân, có vệ, có thành, có ti.
Trên làm bảo điện uy nghi,
Trong có đan trì, ngoài có nghi môn.
Triều đình đặt những vệ quen,
Tả ban Bặc, Điền, hữu ban Tú, Cơ.
Cùng nhau liệu lượng toan lo,
Làm dù bằng non, làm cờ bằng lau.
Trí ra tự thuật chước mau,
Tuỳ nhau giao thủ, đứng hầu làm ngai.
Quỳ cho Bộ Lĩnh lên ngồi,
3700. Gióng ba trống miệng, dâng mười chiêng tay.
Những trẻ phụ cận đó đây,
Làng nào cơ ấy đóng bầy đôi bên.
Hễ nghe úng miệng dọng lên,
Hò reo ba tiếng dậy miền Hoa Lư.
Thiên tử ngự vệ nghiêm như,
Đùn đùn mây họp, ù ù gió ran.
Rước lấy Bộ Lĩnh lên đền,
Bài ban nhã vệ, đôi bên khấu đầu.
Tung hô ba tiếng quỳ tâu:
3710.Vua muôn muôn tuổi, sống lâu trùng trùng!

VI - Đinh Bộ Lĩnh rình mẹ đi vắng, giết lợn khao quân
Qua đường có khách đứng trông,
Sự nga hay cùng, nên xong đã rày.
Tối về sớm tại họp bầy,
Ngủ rày quen mắt, trộm rày quen thân.
Nào dạy vạ xa đồn gần,
Chú đe chẳng được, mẹ ngăn chẳng chừa.
Chơi lâu sướng dạ càn đua,
Bộ Lĩnh ngồi hoà bảo chúng rằng: “Bay,
Đã lòng yêu trẫm thế này,
3720. Toan tạm một ngày, hay sấm nghìn năm.”
Chúng rằng: “Thượng hạ nhất tâm,
Hội nào là chẳng kết làm chúa tôi!”
Cùng nhau trỏ đất thề giời:
“Ai chẳng như nhời, thiên địa xét soi!”
Lĩnh mừng nói hết khúc nhôi:
“Mai nên công nghiệp, ơn nuôi yêu vì,
Đã nên cật dạ một bè,
Hiềm nhà đói kém, lấy gì đãi nhau?
Nhà còn một lợn bấy lâu,
3730. Mẹ nuôi làm vốn, tiếc nhau ru mà!
Mai người đi chợ đường xa,
Dạo dò thấy vắng, chúng ta ập vào,
Bắt ra làm thịt ta khao,
Cơn này hầu dễ tiếc sao phải người.”
Ai nấy y hẹn bằng nhời,
Sáng ngày ngồi họp ở ngoài ngã ba,
Chờ mẹ đi chợ vắng nhà,
Bắt ra cùng giết, chúng hoà cùng ăn.

VII - Mẹ về thấy mất lợn, nói với chú Đinh Bộ Lĩnh
Mẹ về vừa đến ngoài sân,
3740. Tra tay mở cửa, bước chân vào nhà.
Có một bạn goá lân gia,
Chào cợt rằng: “Bà thái hậu về ru!
Rày con bà đã làm vua,
Giàu sang bà được phong lưu từ rày!”
Lão bà khéo miệng rằng: “Bây,
Những như nhời ấy, bà bay mất nhờ!”
Trông ra ngoài cũi bấy giờ,
Mất lợn tai hại, ngồi giơ kêu gào:
“Láng giềng bên trước bên sau,
3750. Có ai thấy lợn tôi đâu chăng là?”
Có người nhủ bảo gần xa:
“Lợn ấy con bà đã bắt những trưa!
Đàn trẻ bầu lên làm vua,
Sai về bắt lợn, ra hoà khao quân.
Cho trẻ chăn trâu nó ăn,
Ai hay là chẳng thánh quân nhà bà!”
Phu nhân tiếc lợn chạy ra,
Nói cùng Đinh Dự: “Chú hoà làm sao?
Oan gia mấy kiếp lộn vào,
3760. Sinh con quỷ quái lông lao chơi bời.
Ở ra những nét dể ngươi,
Nghe nhời trẻ dỗ, lên ngồi làm vua.
Sớm ngày min đi chợ trưa,
Dạo thấy vắng nhà, bắt lợn khao quân.
Chú mà chẳng dạy hư thân:
Nướng đo chẳng chín, vạ trần dâu khô.
Lửa thành ao cá dễ xô,
Nếu trai mà mắc, thì có khôn ăn.”

VIII - Chú là Đinh Dự đuổi đánh Bộ Lĩnh
Đinh Dự nghe nói tức gan,
3770. Cầm gươm ruổi đến Hoa Ngàn một thôi.
Thấy chúng vừa ăn uống rồi,
Điền rằng: “Kìa chú ám hoài chúng ta!”
Bặc liền tuốt lấy dao ra,
Lưu Cơ cầm gậy, người hoà đón ngăn.
Bộ Lĩnh chạy chẳng nhìn thân,
Chú bèn đuổi mãi, hầu gần dặm xa.
Đến chưng bến đò Đàm gia,
Đường cùng nghĩ túng, rẽ bừa xuống sông.
Chẳng ngờ thuỷ tế long cung,
3780. Biết Đinh Hoàng nạn, có lòng chở che.
Mới đòi long tôn tức thì:
“Đàm gia sông ấy, mà đi cho cần!
Thấy Đinh Hoàng phải nạn truân,
Sông cùng nẻo ắt hoá thân làm đường.
Kíp vời rước lấy vua sang,”
Long tôn bèn hoá nên đường hư không.
Chơn vơn nổi giữa dòng sông,
Nhường đường hiện dậy, nhường rồng vắt ngang.
Bộ Lĩnh thoắt thoắt bước sang,
3790. Sông bỗng mất đường, rồng bỗng biến đi.
Dự thấy sự lạ chỉn ghê,
Cắm gươm gọi với: “Trở về hỡi con!”

IX - Bộ Lĩnh trốn sang Giao Thuỷ
Bộ Lĩnh hoà sợ hoà hờn,
E khi quá giận, ra gan thiệt mình.
Đêm ngày nương náu chùa đình,
Nào còn đoái đến ơn sinh đấy rày.
Đinh Điền, Nguyễn Bặc nhớ thay,
Trộm cơm cha mẹ giấu rày cho ăn.
Sự giời đã định quân thần,
3800. Trẻ sao cũng có trung cần cùng nhau.
Lĩnh nhủ Điền, Bặc trước sau:
“Tớ về ắt chú thấy âu chẳng vì.
Chúng ngươi tự ý trở về,
Tớ sang Giao Thuỷ làm nghề bộ ngư.
Vốn ta đã nguyện nẻo xưa,
Cùng hưởng phú quý, cùng nhờ hiền vinh.
Giời dầu còn hậu họ Đinh,
Chưng sau tớ được, về thành Hoa Lư.
Đền lau sau tớ định đô,
3810. Ngôi ngươi ngày trước, lại như giao nhời.
Về thăm khắp hết ai ai,
Chớ thấy sóng cả mà nguôi mái chèo.
Khẩn khẩn xin hãy như điều,
Chúng yêu giời cũng lòng yêu giữ giàng.”
Bặc, Điền, Bộ Lĩnh, năm chàng,
Cùng nhau khóc lóc lên đàng ra đi.
Dã nhau từ biệt một khi,
Kẻ sang Giao Thuỷ, người về Hoa Lư.

X - Bộ Lĩnh đánh cá bắt được ngọc khuê
Lĩnh sang Giao Thuỷ bấy giờ,
3820. Kết cùng phao võng, sớm khuya bạn bè.
Con thuyền tay lái đi về,
Nào khi ngư phủ, nào thì Hoa Lư.
Mệnh giời đã định nẻo xưa,
Ngọc khuê dành để đợi chờ đế vương.
Thường thường có khí hào quang,
Đêm đêm sáng dậy, bên giang trùng trùng.
Bộ Lĩnh hỏi chúng ngư ông:
“Ấy chi mà sáng dưới sông đấy rày?”
Chúng ngư bèn bảo rằng: “Đây,
3830. Sáng ở sông này đã mười hai năm.”
Bộ Lĩnh hay dạ ước thầm,
Sông này hẳn có ngọc trầm ở đây.
Mười hai năm kể đốt tay:
“Ta ra lòng mẹ, giời rày sinh khuê.
Ắt giời đợi thánh ra thì,
May ai nấy được, há chia có tày?”
Một mình thầm ước ai hay,
Nào ngờ phú quý đến ngày giời cho!
Nghĩ được ngọc khuê bấy giờ,
3840. Của nên vô giá, ai mà xem đang?
Tuy còn lấm láp sáng quanh,
Vuông tròn tượng thể, xanh vàng đúc nên.
Góc ngoài khuyết chút một bên,
Nặng nên một nén, giá nên nghìn vàng.
Lòng mừng giấu để vội vàng,
E khi ai biết lên đường tất mong.
Tối hoà lạc chúng ngư ông,
Nhầm đường các nẻo, khôn thông lối về.
Tuy vầy, vận chửa đến kỳ,
3850. Giời thì mưa gió, ngày thì tối tăm.
Van giời vái đất lầm rầm,
Bóng khuê khôn để sáng đem lối đường.
Trước mặt nghe người gõ chuông,
Bừng bừng bóng rỡ, nhường nhường đèn chong.
Tự nhiên phơi phới mừng lòng,
Dạo chân bèn bước đến công tiền đường.

XI - Đinh Bộ Lĩnh lạc đường vào ngủ nhờ một cảnh chùa
Nép mình chẳng dám nói năng,
Thày mới hỏi rằng: “Ai đến làm chi?”
Nói trình sau trước vân vi:
3860. “Khó đi kiếm cá, gặp thì chẳng may,
Tối tăm mưa gió nhường này,
Về chẳng biết nẻo, cạy thày vào nương.”
Thày nghe cám cảnh lòng thương,
Dọn cơm thết đãi, dọn giường nghỉ ngơi.
Thày hay cao ý dạy ngồi,
Vắng đêm thấy người dao xét sự duyên.
Bỗng sao sáng khắp hoà chiền?
Thày ngờ Phật giáng thày liền cúng hương.
Động bèn chẳng thấy hào quang.
3870. Nín thôi thời lại bừng bừng như xưa.
Thấy trong chỗ nghĩ sáng ra,
Biết tình thày chẳng có ngờ chi đâu.
Sáng ngày thày hỏi trước sau,
Ngọc khuê nghĩ mới đem hầu thày coi.
Nhìn đi nhìn lại một thôi!
Giờ lâu thày mới mở nhời nói ra:
Con ta phúc đức hay là,
Ngày sau làm chủ quốc gia trị đời.
Nhưng hiềm phúc hưởng chẳng dài,
3880. Ngắn dài có số, lượng giời đã chia.
Phô loài phù thuỵ xưa kia,
Như hoa khai lạc, một thì bằng nay.
Đức năng thắng số ai hay,
Con hãy tu đức, mai ngay sẽ bù.
Thày cũng là kẻ sư mô,
Xưa làm thuật sĩ, nay tu ở già.”

XII - Đem ngọc khuê đến tìm Trần Minh Công
Tạ thày, Bộ Lĩnh trở ra,
Một mình lưỡng lự, cùng hoà dở dang.
Mong về Gia Viễn cố hương,
3890. Lại lo lòng chú chẳng thương hồ đồ.
Mong về Giao Thuỷ chốn xưa,
Tổ tông chi đấy mà cho chóc mòng.
Xưa nay mấy kẻ anh hùng,
Biết bao khổ nhục kế cùng gian nan!
Lấy nền công nghiệp làm hơn,
Nào toan sinh tử, nào toan nhọc nhằn.
Ngùi ngùi nhớ đức tiên nhân,
Bao giờ sáng chút một phân đèn mờ?
Cam lòng phỉ ước thuở xưa,
3900. Nghĩ còn mặt thấy, nào ngờ mình xa!
Đau lòng âm ỉ xót xa,
Sứ quân thập nhị tranh đua đêm ngày.
Nào ai còn nhớ nghĩa thày!
Mạnh đâu cứ đấy, múa may anh hùng.
Khá khen họ Trần Minh Công,
Ở ngoài Bố Hải cả dung anh tài,
Bộ Lĩnh tuổi đã hai mươi,
Ngồi chẳng chỗ ngồi, ăn chẳng chỗ ăn.
Tai từ nghe thấy đức nhân,
3910. Có lòng đãi sĩ, có ân dung người.
Ta sang ở đấy hôm mai,
Hoạ may lòng giời, có hậu cùng chăng.
Gìn lòng giữ báu khăng khăng,
Hiền xưa từng rằng: “Vật bắt ly thân”
Bá Phù Hán tỉ để phân,
Chẳng nên thời đổi lấy quân giữ nhà.
Một lòng quyết chẳng hai ba,
Thăm đường Bố Hải, tìm ra xưng thần.

XIII - Trần Minh Công gả con gái cho Đinh Bộ Lĩnh
Cửa dinh thơ thẩn hỏi dần,
3920. Tình cờ khi ấy họ Trần ra chơi.
Thấy lạ bèn hỏi: “Ấy ai?”
Rằng: “Tôi là người quê ở Hoa Lư.
Cha tôi thứ sử Hoan Châu,
Là Đinh Công Trứ đời vừa chiến tranh.
Sinh ra còn trẻ phù sinh,
Loạn về quê cũ, đem mình lên tiên.
Mẹ tôi goá bụa khổ hèn,
Giai thuở thất quyền, gái nhỡ hồng nhan.
Liền nên nhị rữa hoa tàn,
3930. Bướm chẳng đoái nhìn, ong chẳng tham thanh.
Mẹ nam con bắc cầu sinh,
Tôi bỗng một mình, lạc đến chưng đây.”
Trần Công thấy nói biết hay,
Con dòng nhỡ bước, thương thay ngùi ngùi.
Nhìn em diện mạo khác người,
Dưới phàm hoạ có dễ ai sánh cùng.
Mày giăng, tóc phượng, mũi rồng,
Trượng phu đã hẳn, anh hùng chẳng sai.
Bảo rằng: “Chú ngỡ là ai!
3940. Xưa Đinh Công Trứ với người đã giao.
Loạn phân từ ấy cách nhau,
Kẻ nhậm chư hầu, người làm tá vương,
Trượng phu nghiệp ngỡ vững vàng,
Nào ngờ tạo hoá nhỡ nhàng người vay!
Giời xui con lại đến đây,
Nghĩa cũ một ngày muôn kiếp chẳng phai.
Chú nay chưa có con giai,
Lo sau hậu tự cho ai nghiệp này?
Xin con ở cùng chú đây,
3950. Cho chú dạy dỗ hoạ rày nên thân.”
Thấy nói Lĩnh mừng muôn phần,
Cửa dinh hầu hạ chuyên cần vào ra.
Xem Trần Công vững đạo cha,
Có ăn có mặc, liền ra thân người.
Một ngày là một tốt tươi,
Dung nhan diện mạo khác người phàm dân.
Duyên giời tạo hoá khéo phân,
Họ Trần con gái vừa tuần tuổi nhau.
Minh Công xem biết trước sau,
3960. Anh kỳ khôi vĩ thế đâu cho bằng?
Hoà thêm hổ bộ long hành,
Thiên biểu nhật giốc, thực hình đế vương.
Dưỡng nuôi xem vững ngọc vàng,
Mấy quyền trao ấn, gả nàng kết ơn.
Trong ngoài mặc sức đem quân,
Quan sứ họ Trần niên lão ngồi nghe.

XIV - Đinh Bộ Lĩnh viết thư về nhà
Viết thư bèn khiến một người,
Về trình mẹ chú khúc nhôi hay tình.
Cùng thăm Nguyễn, Trịnh, Lưu, Đinh,
3970. Hợp chư quần mục, phân minh sự lòng.
Thấy thư ai nấy hãi hùng,
Họ hàng thân thích, tây đông trong ngoài.
Nghe tin cả bé ai ai,
Đắt bằng sấm dậy, giời xui người làm.
Bấy giờ tin bắc tin nam,
Như rồng thêm cánh, như hùm thêm vây.
Nguyễn, Đinh, Lưu, Trịnh biết hay,
Rủ nhau ai nấy kỳ này đến nơi.
Đinh Công thấy mặt ngùi ngùi,
3980. Nghĩa thày tớ cũ, cùng ngồi dã nhau.
Năm người ngước mắt nhuốm thâu,
Những ngờ lưu lạc, hay đâu sum vầy?
Thôi liền chén chuốc vơi đầy,
Yến duyên cao thấp, tiệc vầy ỷ la.
Bảo nhau sự cũ lâu xa,
Bởi có lợn ấy cho ra nỗi này.
“Mỗ từ lưu lạc bấy chầy,
Nhớ đến nhau rày, trong dạ còn đau.
Bây giờ được thấy mặt nhau,
3990. Dầu nên kia khác, thể âu ở giời.”
Trần Công sảy thác hôm mai,
Tớ thày rộn rịp trong ngoài lo toan.

XV - Sự tích Lê Hoàn
Hôm sau xẩy thấy Lê Hoàn,
Quê trong Phủ Lý, ở ngàn Thanh Liêm.
Cha là Lê Mịch chẳng hiền,
Mẹ là Đặng thị, hợp duyên vợ chồng.
Vui thay giữ đạo tam tòng,
Vốn lòng kính tín, chẳng lòng tà gian.
Chút chẳng có sự loạn đan,
4000. Vui bề cầy cấy, dưỡng nhàn thú quê.
Đặng thị đức hạnh dung nghi,
Thế ắt khôn bì, người ắt khôn phen.
Lấy nhau vừa đặng đôi niên,
Phúc đức người trước để truyền đời sau.
Thu về nguyệt lãng giời thâu,
Nàng vừa mới giấc ban đầu canh hai.
Bỗng cơn tốn nhị đưa mùi,
Thoảng đâu bảng lảng gió giời đưa hương.
Chiêm bao thấy sự lạ nhường,
4010. Bỗng đâu sen nở vào nương nang rày.
Bèn liền bẻ lấy cầm tay,
Cho chúng ăn rày, mình lại miệng không.
Từ ấy nhẫn động thai cung,
Nguồn đào nước chẳng thấy thông thái hồ.
Đến kỳ mãn nguyệt sinh ra,
Trên giời mây phủ, dưới nhà hương xông.
Được một nam tử lạ lùng,
Mày Nghiêu lồ lộ, mặt rồng hây hây.
Cô dì mừng bảo rằng: “Nay,
4020. Sau ắt người này chủ họ nhà ta,
Toàn gia cùng được vinh hoa.”
Nào hay song bóng nên nga nhỡn tiền.
Nhớn lên trí ngỏ tài hiền,
Ra danh hào kiệt, kết nguyền trượng phu.
Thấy đời rắp đuổi loạn Ngô,
Đem binh tử đệ đến thờ Đinh Công.
Thảo ngay khuya sớm một lòng,
Vạc thang chẳng chạy, gai chông chẳng hiềm.
Đinh Hoàng yêu đãi trong quyền,
4030. Binh mấy muôn nghìn giữ cõi hải biên.

XVI - Đinh Bộ Lĩnh thay quyền Trần Minh Công
Đinh Hoàng từ được Trần quyền,
Đức muôn vỗ chúng, ơn nghìn trị dân.
Nào đâu là chẳng xưng thần,
Nào đâu là chẳng đội ơn dào dồi?
Tựa nhường vàng phố mây trôi,
Một giời gió dậy, chín giời cũng thanh.
Dân mừng ca ngợi song sinh,
Tượng giời hẳn mở thái bình từ đây.
Từ ấy uy động tiếng bay,
4040. Càng năm càng nhớn, càng ngày càng xa.
Người đều díu dắt trẻ già,
Nức lòng tìm đến cùng hoà làm tôi.
Sứ quân ai nấy nghe hơi,
Rằng Trần dưỡng tử có tài đem binh.
Tính thôn lòng ắt đã đành,
Chước tung biết mấy, chước hoành kể muôn.
Ra tài tảo đãng kiền khôn,
Cõi bờ sắm sửa nước non về cùng.
Ngẫm thời Chu mạt chiến phong,
4050. Xuân Thu chưa dứt, thất hùng đã ra.
Cùng nhau gìn giữ quan hà,
Phòng tuần tước đoạt để hoà ngự coi.
Trần Công tuy chửa có giai,
Cậy rể có tài, xem vững mười con.
Tuần này cơ nghiệp càng bền,
Chẳng lo chếch lệch, chẳng phiền nỗi nông.
Chước Trần đã nên anh hùng,
Bảo toàn mình lại vẹn công họ hàng.

XVII - Trần Minh Công tạ thế
Tuổi nhiều già lẫn có thường.
4060. Người nhân tật nặng, long sàng giối giăng.
Vời Đinh Hoàng lại dặn rằng:
“Cơ hội này chớ dùng dằng làm chi.
Trượng phu công nghiệp có kỳ,
Giời cho chẳng lấy lại thì ăn năn.
Bay đòi thập nhị sứ quân,
Tài bé chẳng trí kinh luân trong đời.
Già em chẳng có hai nuôi,
Chớ lòng trẻ nấy, tới người khác toan.”
Thôi bèn thoắt nhắm trong màn,
4070. Đinh Hoàng ấp lấy, khóc than ngùi ngùi.
Nhớ công nuôi nấng hôm mai,
Sinh dùng nghĩ thác, biết đời nào quên.

XVIII - Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên mười hai sứ quân
Sắm sanh trợ táng vừa yên,
Đinh Hoàng truyền lệnh quân quan ra đời.
Chữ rằng: xuân bất tái lai,
Một ngày há có hôm mai hai lần.
Ai ai hiến sách đầy sân,
Thành nhân quả quyết, bại nhân dùng dằng.
Tôn Đinh là Bách Thắng Vương,
Sửa sang thuyền bộ mở mang cõi bở,
4080. Binh ra thuận gió thuận mưa,
Thiên thời địa lợi, nhân hoà dưới trên.
Luỹ nào luỹ chẳng phá tan,
Giặc nào giặc chẳng lo toan về đầu?
Lấy thành như thể hái rau,
Khác nào mãnh hổ công vào đàn dê.
Bắc nam mảng tiếng tìm về,
Kinh rền oai sấm, dậy he hơi hùm.
Những loài tốn áo hao cơm,
4090. Khi rồi nói lý, khi làm xun tay.
Thấy binh kéo đến chạy ngay,
Lấy mình làm trọng, lấy thày làm khinh.
Giang sơn rừng núi quét thanh,
Sứ quân thập nhị, phá manh làu làu.
Kẻ thì thua trận xuống đầu,
Kẻ thì lão tử, kẻ âu trẫm mình.

XIX - Định đô, xưng nước, sắp đặt triều đình
Nhẫn đành nước chẳng đao binh,
Loan xa thánh giá về thành Hoa Lư.
Lấy làm thang mộc định đô,
4100. Lên ngôi bảo vị, làm vua trị đời.
Nước xưng Đại Cộ nối giời,
Xây thành lập luỹ, trong ngoài sửa sang.
Lại xưng Đại Thắng thiên hoàng,
Định quan văn võ, sắp hàng triều ban.
Lệ triều thượng quốc sáng quan,
Chọn tài báo sính, khôn ngoan thố từ.
Binh đặt có vệ, có cơ,
Một ngũ một cờ, một hiệu một voi.
Bặc, Điền, Lưu, Trịnh bốn người,
4110. Tước phong thái uý, chức ngồi quốc công.
Hoàn cai thị vệ triều trong,
Kỳ dư định thứ, phân phong trong ngoài.
Mừng thay quốc trị lâu dài,
Thư son khoán sắt, chép đời tôi con.
Nhẫn dầu bể cạn non mòn,
Công nghiệp hãy còn, con cháu hãy vâng.
Thiên hạ mừng thấy thái bình,
Thăng hằng chúc thánh, cương lăng trị đời.
Khôn thay máy nhiệm ở giời,
4120. Sấm bèn thấy đọc miệng loài tiểu nhi.
Sấm rằng: “Đỗ Thích thí Đinh Đinh,
Lê gia xuất thánh minh
”.

XX - Đinh Hoàng và Đinh Liễn bị giết
Chẳng ngờ người kẻ Đại Đê,
Là người Đỗ Thích nó đi nhạc hầu.
Ơn nuôi được dự ra vào,
Bề trên yêu đãi, hôm giao triều gần.
Nó đi đánh thuế nhà dân,
Ban đêm nằm mát ngoài sân một mình.
Hư không thấy một lưu tinh,
Sa vào miệng nó, nghĩ mình nó nên.
Tới thuở được ra vào đền,
4130. Đom đóm tranh đèn, ước sáng mọi phương.
Tiên Hoàng đêm ngự sân vàng,
Thưởng thu nhớ sự Minh Hoàng chơi giăng,
Vui nhân quá chén Đỗ Lăng,
Vua cùng thái tử nghỉ băng ngoài thềm.
Đỗ Thích nó nhòm biết tin,
Leo thành nín nặng, nó len mình vào.
Tiên Hoàng mải giấc chiêm bao,
Nó liền đâm tuốt một dao đôi người.
Vua cùng thái tử hoà đôi,
4140. Cùng nằm song sóng, thác nơi bên thềm.

XXI - Bặc, Điền giết Đỗ Thích, tôn Đinh Toàn làm vua
Thái uý Nguyễn Bặc, Đinh Điền,
Đem quân nã tróc bốn bên nội thành.
Bắt được Đỗ Thích chính danh,
Diệt hoà tôn tộc một manh chẳng còn.
Thôi bèn thu liễm kiền khôn,
Tiên Hoàng thái tử táng ngàn Hoa Lư.
Một Hoàn ra dạ thờ ơ,
Có tình ngấp nghé, muốn cơ vẫy vùng.
Từ ngày Thích phạm minh rồng,
4150. Ý Hoàn chấp chửng có lòng minh âm.
Trong nhà thầy tớ nói thầm:
“Đỗ Thích nó làm gãi chỗ ngứa tao!”
Ngày sau văn võ hoà triều,
Tôn phò thứ tử xem triều quốc gia.
Đại thần phụ tá vào ra,
Tên là Đinh Duệ còn thơ ấu trùng.
Ai ai khuya sớm một lòng,
Rắp như Chu Triệu, nhị công cùng hoà.

XXII - Dương hậu thông giao với Lê Hoàn
Chẳng ngờ Dương hậu dâm tà,
4160. Sẩy chồng ra thói giăng hoa loạn thường.
Goá liền giồi phấn điểm trang,
Thướt tha ăn mặc, vẻ vang nói cười.
Tìm trong vẽ mặt cắt tay,
Trăm nghìn chưa được một hai đâu là.
Những luồng khúm núm cho qua,
Ngoài tuy kết giới, trong đà phá môn.
Thương thay tang phục hãy còn,
Nghĩa chồng đạo chúa bỏ chôn đường nào.
Bên cùng Lê tướng thông giao,
4170. Cung cấm ra vào, khi vũ đồng liêu.
Lộng quyền lại được hậu yêu,
Mướp sơ thêm đắng, lý nào chẳng sai!
Binh quyền mặc nghĩ trong ngoài,
Yêu ai thì cất, ghét ai thì dìm.
Đại thần lo lắng ngày đêm,
Chức nào nhổ được dằm lim ra rày?
Nghĩ xưng làm phó tướng nay,
Xem vua phế đế chẳng tày đạo con.

XXIII - Bặc, Điền định đánh Lê Hoàn
Xem Đinh thế đã chon von,
4180. Nguyễn Bặc, Đinh Điền biết ý bảo nhau:
“Tham dâm hoàng hậu hay đâu,
Lê tướng thấy hầu chẳng biết con thơ.
Chúng ta tôi cũ thuở xưa,
Mặt nào địa hạ thấy vua Tiên Hoàng.
Tử sinh thề có xanh vàng,
Trượng phu bao luỵ, phô đường bất nhân.
Liều mình giả nợ tiên quân,
Ra binh tử đệ, đón ngăn Lê Hoàn.
Tướng quân ở trước trăm quan,
4190. Chẳng toan vì nước, sắm toan nên lòng.”
Hoàn rằng: “Già lẫn nói dong,
Ai dễ dám lòng làm phản mà lo?”
Hoàn mong giở mặt bấy giờ,
Lại lòng thương nể thuở xưa đồng triều.
Lấy làm chẳng xá hôm dao,
Bốn người lại nhịn, nói nhau thuận hoà.

XXIV - Lê Hoàn làm vua thay Đinh Toàn
Lữa lần tháng trọn ngày qua,
Tống sai Nhân Bảo nó hoà đem binh.
Đều lòng kết hảo Chiêm Thành,
4200. Thấy trong trung quốc bất bình chúa tôi.
Thư vào cáo cấp tới nơi,
Bấy chày thái hậu liền sai Lê Hoàn,
Ấn phong làm Thập đạo quyền,
Một trăm tướng thuộc, mười vạn tinh binh.
Hoa Lư từ đấy khởi trình,
Tinh kỳ lá rợp, quân binh chật ngàn.
Giữa đường ban tối đóng đoàn,
Quan quân cả bé cùng toan rằng vầy:
“Bây giờ chúa ấu thơ ngây,
4210. Xem xưa Sái thị mới rày bảo nhau.
Dẫu phá được giặc chưng sau,
Thửa công lênh ấy, ai hầu kể cho?
Trần Kiều thủ tín thuở xưa,
Tống Hoàng sư ấy, bây giờ phải chi!”
Dưới trên thảy thảy cùng nghe,
Bèn tôn Thập đạo thay vì nhị Đinh.
Binh trở lại Hoa Lư thành,
Quan quân đâu đấy phục tình làm tôi.
Số trong còn có bốn người,
4220. Dấy từ thuở nhỏ, theo đòi tiên vương.
Từ ngày xẩy mặt Đinh Hoàng,
Thấy con chúa ấu, lòng còn riêng lo.
Dương hậu ra dạ dâm ô,
Vun giồng Thập đạo, bây giờ cướp ngôi.
Còn mặt mũi nào mà coi!
Lòng người chẳng biết, lòng giời đã hay.
Tuyệt hơi cho kẻo lấm tay,
Lê Hoàn cám cảnh, mặt dầy làm thinh.
Dương hậu từ nghe biết tình,
4230. Sửa sang dù tán sắm sanh cổn bào.
Hoàn đến, hậu bước ra chào,
Tỉ phù hoàng việt cất trao Lê Hoàn.
Lập đền lên Bảo Thái sơn,
Định đô thôi đã trăm quan vào trầu…
Cự Lạng, Tử An bèn tâu:
Giáng phong thiếu đế tước hầu Vệ Vương.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]