Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

陟廣仁嶺

雄瞻古北口,
人上石巑岏。
赤日胸前捧,
青雲足下蟠。
瀑翻驚鹿飲,
風震怯猿攀。
皇路開通後,
寬平絕險艱。

 

Trắc Quảng Nhân lĩnh

Hùng chiêm Cổ Bắc khẩu,
Nhân thướng thạch tán hoàn.
Xích nhật hung tiền bổng,
Thanh vân túc hạ bàn.
Bộc phiên kinh lộc ẩm,
Phong chấn khiếp viên phan.
Hoàng lộ khai thông hậu,
Khoan bình tuyệt hiểm gian.

 

Dịch nghĩa

Trông cửa Cổ Bắc hùng tráng,
Người trèo lên vách đá cheo leo.
Mặt trời đỏ như ở trước ngực,
Mây xanh dường quấn dưới chân.
Thác đổ làm kinh lũ hươu đang uống nước,
Gió thốc lên làm lũ vượn khiếp sợ chuyền cành.
Sau khi con đường được vua khai thông,
Làm cho nhưng gian khổ nguy hiểm trở nên dễ dàng.


Nguyên chú: “Lĩnh tại Thừa Đức phủ, Nhiệt Hà chi nam, Khang Hy sơ niên tiệt lĩnh khai lộ, bàn toàn thượng hạ xa mã khả hành” 嶺在承德府熱河之南康熙初年截嶺開路盤旋上下車馬可行 (Núi này nằm ở phủ Thừa Đức, phía nam Nhiệt Hà, năm đầu thời Khang Hy, phá núi mở đường, đường quanh co lên xuống, ngựa xe có thể đi được). Núi Quảng Nhân nằm ở phía tây huyện Thừa Đức, Nhiệt Hà chừng 11 dặm, tức là núi Mặc Đấu ngày xưa, đời nhà Thanh đặt tên là Quảng Nhân.

[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]