詠徵女王

赤心憂國每如惔,
為起紅顏作美談。
巾幗千年羞魏將,
干戈百戰小唐男。
江山更為妖嬌壯,
滄海猶令矍鑠慚。
銅柱不成兒女玷,
英雄凜烈滿天南。

 

Vịnh Trưng Nữ Vương

Xích tâm ưu quốc mỗi như đàm,
Vị khởi hồng nhan tác mỹ đàm.
Cân quắc thiên niên tu Nguỵ tướng,
Can qua bách chiến tiểu Đường nam.
Giang sơn cánh vị yêu kiều tráng,
Thương hải do linh quắc thước tàm.
Đồng trụ bất thành nhi nữ điếm,
Anh hùng lẫm liệt mãn thiên Nam.

 

Dịch nghĩa

Tấm lòng son lo cho nước thường như lửa đốt,
Việc khách má hồng nổi dậy dã thành câu chuyện hay.
Ngàn năm yếm khăn còn khiến bọn tướng Nguỵ hổ thẹn,
Trăm trận gươm giáo coi khinh lũ đàn ông Đường như trẻ con.
Non sông nhờ khách yêu kiều mà thêm hùng tráng,
Biển xanh còn khiến gã quắc thước kia phải xấu hổ.
Cột đồng chẳng gây được vết nhơ cho người nhi nữ,
Gương anh hùng lẫm liệt vẫn rạng khắp trời Nam!


Tuyển từ Yên Đổ tiến sĩ thi tập (VHv.1864).

Nguồn: Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn Nghệ, 2005

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Trần Văn Nhĩ

Vì nước lòng sôi ngọn lửa hồng,
Má đào nổi dậy, chuyện vô song.
Ngàn năm khăn yếm kinh hồn Nguỵ,
Trăm trận gươm đao miệt tướng Đường.
Nhờ khách yêu kiều non nước tráng,
Thẹn ai quắc thước biển xanh trong.
Cột đồng chẳng vấy danh nhi nữ,
Lẫm liệt trời Nam, mãi rạng gương.

tửu tận tình do tại
15.00
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Lo nước lòng son ngọn lửa bừng,
Má hồng nổi dậy tiếng vang lừng.
Gươm đao trăm trận khinh Đường tướng,
Khăn yếm ngàn năm khiếp Nguỵ quân.
Sông núi sáng ngời danh nữ kiệt.
Biển xanh ghi nỗi nhục nam nhân.
Cột đồng đâu dễ loè nhi nữ,
Lẫm liệt trời nam chiếu sáng trưng.

15.00
Trả lời