Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

Khéo bể dâu[1] chi chốn Quảng Hàn[2],
Mà rơi chị nguyệt xuống trần gian.
Đã mòn con mắt khi mừng tủi,
Lại chẳng riêng lòng thuở hợp tan.
Tuổi trẻ khôn tu lòng tục luỵ,
Mặt sầu dễ gột thói tân toan.
Giơ gương soi thử phong tình lại,
Thấy mặt người sầu khóc những oan.


Chú thích:
[1]
Bể dâu: “Bể dâu” hay “bãi bể nương dâu” do chữ “thương hải tang điền” 蒼海桑田, nghĩa là biển xanh biến thành ruộng dâu. Theo Thần tiên truyện, tiên nhân Vương Phương Bình giáng mời tiên nữ Ma Cô đến. Ma Cô nói: “Tiếp thị dĩ lai, dĩ kiến đông hải tam vi tang điền” (Từ khi được tiếp hầu ông đến nay, tôi thấy biển đông đã ba lần biến thành ruộng dâu), ý nói đã có những thay đổi lớn lao, hay những thăng trầm trong cuộc đời. Người Việt ta đã mượn từ thành ngữ “thương hải biến vi tang điền” này rồi chuyển dịch và rút gọn thành nhiều biến thể khác nhau, như “dâu bể”, “biển dâu”, “bãi bể nương dâu”, “cồn dâu hoá bể”,… đều với ý nghĩa tương tự.
[2]
Nghĩa gốc là rộng và lạnh lẽo. Theo Long thành lục, Đường Minh Hoàng nhân đêm rằm tháng tám được nhà thuật sĩ làm phép lạ đưa lên mặt trăng chơi, thấy cửa vào cung trăng có biển đề “Quảng hàn thanh hư chi phủ” (Cái phủ trống rỗng, trong suốt, lạnh và rộng) do đó Quảng Hàn, Cung Quảng Hàn, Cung Quảng, Cung Hàn,... đều dùng để chỉ mặt trăng.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]