Nhớ thủa sắt cầm lựa ngón, mảnh duyên bình thuỷ khéo xe nên;
Chưng khi cù cát đua tươi, chút phận khâm chù đâu dám trễ.

Mục kiệm cần sau trước nào sai;
Gương kính nghĩa tơ hào chưa mẻ.

Đoàn tì thiếp cùng san hương sẻ phấn, dấu thơm lừng lẫy chốn tha hương;
Họ thân sơ cùng đỡ gió che sương, cửa phúc mở mang nơi cố lý.

Ba điềm hùng huỷ, phun ngọc cười hoa;
Mấy nếp giang sơn, dựng nhân gây nghĩa.

Những ước ba vạn sáu ngàn ngày canh kỷ, vững nền phúc thọ há âu chi;
Nào ngờ bốn mươi thêm năm lẻ xuân thu, đóng cửa âm dương sao kíp nhỉ!

Họp tan thế cục mấy bao lường;
Gây dựng gia tình khôn xiết kể.

Khi vĩnh quyết đeo mang tình cúc ngã, chẳng rốn ít nhiều năm nữa, ân kia dầu nước biếc hãy băn khoăn;
Lúc phu thường cách diễn mặt đồng tâm, không trao mảy chút lời chi, hận ấy suối vàng chưa thoả thuể.

Sủi tăm khế khoát lúc đầy vơi;
Cồn trận bi tư cơn năng nhẹ.

Dầu kinh bố cũng ngậm ngùi lắm nỗi, trước mặt ngây chồi quế liễu, tưởng công san hải tiếc cho người;
Mà linh xuân thêm thắc mắc trăm phần, bên hiên rước bóng công hầu, mất dấu trâm thoa thương đến kẻ.

Đầu thềm hót nhớ rộn tin oanh;
Trước sối khêu buồn rày khúc dế.

Đường hàm lộng vui vầy cửa Mã, chệnh niềm nhất bản cháu thương bà;
Áo vũ xô xúng xính sân Lai, nhìn mặt song đường con nhớ mẹ.

Dâng tần chua xót lòng dâu;
Dự ngọc bẽ bàng mặt rể.

Ôi!
Ngảnh lại Thanh Oai đất khách, nghìn thu mã lạp, chín khúc viên tràng;
Trở về Bạch Hạc quê nhà, một nấm cô phần, đôi hàng giao lệ.


Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 126, tháng 2-1928