Than rằng:
Mông mênh bể giác, bè từ xuôi ngược dầu xa buông;
Lãng đẳng nước triều, thuyền khách đi về tình ngại chở.

Chồi lang rây tuyết oán đầm đìa;
Cây tử dính rêu sầu hoen huỷ.

Trộm nhớ thuở súc tài lương đống, cờ cuộc sá chen vành lợi, chước dọc ngang khinh sự nghiệp Tô Trương;
Trải đòi phen dật hứng giang hồ, chén vui khoan bẻ chèo lan, cơ thua được gác chuyện trò Hán Sở.

Lên ghềnh xuống thác đã quen thung;
Vào biển ra ngòi từng đủ thứ.

Nhà thanh bạch vẫn sàn sàn xuân phú quý, đành rằng phúc ấm dõi muôn thu;
Buổi phiêu trần còn xang xác chỉ phong lưu, mừng được thái bình riêng một cửa.

Vững nền phúc thọ há âu chi;
Đóng cửa âm dương sao kíp nỡ.

Phận kinh bố đã so le ước cũ, ba năm trọn những mơ chiên tưởng gối, nét đào hồng sắc chửa từng quên;
Dây sắt cầm vừa chắp nối duyên sau, sáu thu tròn mà bẻ kính lìa tơ, nguyện đá vàng tâm sao chẳng nhớ.

Đã thôi tranh cạnh toả lợi giàm đanh;
Song thiết đinh ninh đường quê nỗi chợ.

Ôi!
Hạc về hoạ biểu dầu xưa đâu;
Mễ đội Lam Quan ngày nào nữa.

Ngảnh lại chốn bình sa trúc ổ, Tráng mặt bến nước cồn sóng thảm, thảm này chìm tới cửa long cung;
Ngừng trông chừng gót ngọc am mây, Lãnh đầu gành chim giục tiếng sầu, sầu ấy nổi vào doành Ngưu nữ.

Thông cù rời bước, Quyên lệ chan hoà;
Cảo lý xa trông, Viên tràng bỡ ngỡ.

Nay nhân:
Đường tổ rước về;
Tuần ngu tạm mở.

Lòng khổ luyện ngậm ngùi đạo hiếu, mùi suông vị nhạt bày dưới thoi vàng;
Khói trầm hương nghi ngút chữ thành, giấy ngắn tình dài gửi trên ngọn lửa.


Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 119, tháng 7-1927