Thơ » Việt Nam » Khuyết danh Việt Nam » Thơ dân gian » Ca dao » Vè, đồng dao
Đăng bởi tôn tiền tử vào Hôm nay 15:25
Đi đâu chẳng tới làng Đông?
Xem gái đánh cồng,
Xem trai vật võ.
Xem ông Trạng Nghè,
Xem bà áo the,
Xem ông gác cổng,
Xem ông nhắc bổng,
Xem ông rứt sườn.
Xem ông mổ bụng,
Xem người vú thúng,
Xem người mài gươm,
Xem điểu ma vương.
Xem thần đỏ mỏ,
Xem chàng đơm đó,
Được chiếc gươm vàng,
Xem dải yếm nàng,
Thành cầu nương tử.
Xem quả đu đủ,
Thành đôi vú thần,
Chỉ gươm mười thước.
Xem ông đốt đuốc,
Thành quả núi tròn.
Xem người nuôi con,
Ở trong bụng ngọc.
Xem núi xoã tóc,
Xem đống Chải Đầu.
Xem đầm làng Cầu,
Xem cầu làng Sải,
Nhất tụng thì vái,
Nhất ngãi thì chiềng.
Nhất vật thì thiêng.
Này là đầm Cá,
Này là đầm Tôm.
Này là chợ Hôm,
Này sang chợ Giành,
Này nàng áo xanh,
Này nàng áo tía,
Này đô mười vía,
Này kiếm năm làng,
Này giáo bang thang,
Này nàng trăm sắc,
Này chàng đánh giặc,
Bằng cái móng tay.
Này nàng hát hay,
Làm quay muôn giáo.
Làm trời điên đảo.
Tương tư ai bày?
Ai biết truyện này?
Bát hương phát tích.
Cùng về một đích,
Mùa con thuỷ cường.
Ai đốt nén hương?
Thơm lừng năm tổng.
Ai cào gò đống?
Ai thờ sống trời?
Ai nhỡ để rơi?
Trăm ngàn giọt máu.
Sinh ra con cháu,
Chia về trăm làng.
Ai chấp ngàn thang?
Chèo lên Ngọc đế.
Ai tìm ra kế?
Bẻ được cầu vồng.
Làm cuốc cày đồng,
Đào sông khoan núi,
Ai đem cái túi?
Lừa được Nam Tào.
Ai đoạt được dao?
Của ngài Bắc Đẩu.
Ai có cái đẩu?
Đong được cả mây.
Đong đông, đong tây,
Mưa dây bão giật.
Đong trời, đong đất,
Kẻ mất người còn,
Đong núi đong non,
Đong gò, đong bãi.
Đong nghì, đong ngãi,
Đong cả khóc cười.
Trăm thứ trên đời,
Đều đong được tất.
Ai có nắm đất?
Hơn mười cót vàng.
Ai may áo chàng?
Bằng hơi thở ấm.
Ai có cái nấm?
Che cả mặt trời.
Ai có con dơi?
Ngậm ngàn viên ngọc.
Ai có mớ tóc?
Biết khóc biết cười.
Ai có con người?
Bồng Lai tiên cảnh.
Ai có đòn gánh?
Gánh được núi Yên.
Ai có cái khiên?
Che mình trăm trận.
Ai vung tay đấm?
Vỡ cả Thiên đình.
Thượng đế đi rình,
Thì ra cái yếm!
Của này thật hiếm.
Đã nắm trong tay.
Sai gió, gió bay,
Sai mây, mây lặng.
Giơ lên tắt nắng,
Hạ xuống tạnh mưa.
Ai có cái cưa?
Cưa ngang mặt nguyệt.
Về sau trăng khuyết,
Cải lỗi ăn năn,
Ném lên cái khăn,
Thành mây lơ lửng.
Ấy ai tay cứng?
Đánh được hung tinh.
Cải dạng tàng hình,
Đêm ngày quấy nhiễu.
Mặt hoa mày liễu,
Thủ, vĩ mười hai.
Nó có cái tai,
Đựng năm trăm rắn.
Nó có nọc cắn,
Chết cả cỏ cây,
Nó có cái tay,
Móc tim ăn sống.
Ai xây nên động?
Cầu võ, chiêu hiền.
Luyện trăm năm liền,
Mà về vẫn trẻ.
Uy trời không xé,
Lượng đất không dầy.
Ai có rượu say?
Trăm ngày không tỉnh.
Được lên thiên đình,
Được qua cõi tiên.
Được xuống đất hiền,
Bay qua địa ngục.
Rắn dài trăm khúc,
Cũng phải van tha.
Quỷ sứ, Diêm La,
Cũng ôm đầu chạy.
Đâu đâu cũng thấy,
Hồ biển Động Đình.
Sông núi hữu tình,
Đều là thưởng ngoạn.
Ai trừ tà Hán?
Ai yểm tà Ngô?
Bẻ cổ hung đồ,
Xé gan quỷ độc.
Ai nằm dưới dốc?
Vốc thành núi đồi.
Ai luyện ngàn dơi?
Lên thăm ông Ác.
Ai dựng ngàn xác?
Trả nghĩa oan khiên.
Ai xuống cửu tuyền?
Còn thèm cau đậu.
Khoét bụng cá sấu,
Mà về dương gian.
Ai tẩy rửa oan?
Vô tận phiền não.
Ai dám lên tháo?
Bể nạn chúng sinh.
Bối rối Đế đình,
Đền oan, thác tội.
Ai cơn bối rối?
Tư lự thất tình.
Không chịu quyên sinh,
Lên tìm Hoàng ác,
Một là chịu thác,
Hai gói được mây,
Trong chiếc khăn dày,
Thấm đầy nước mắt.
Ác Hoàng không tắt,
Cháy mất khăn oan.
Ác nghiệt chán tràn,
Hoá thành sao Hoả.
Ấy ai nghĩa cả?
Hoá thành núi Nhân.
Ấy lại chuyên cần?
Trời cho núi Tháp.
Năm canh ai đắp?
Để có núi Bình.
Ai làm tội tình?
Cho nên núi Nan,
Cho nên làng Quán,
Cho nên làng Kênh.
Ai nhắc, ai bềnh,
Cho lừng tổng mạc.
Nay thời ký thác,
Một lưỡi gươm thiêng,
Đánh trăm trận liền,
Dẹp yên trời đất,
Linh hồn bất xuất,
Thánh nghiệp Thánh ta.
Bốn cõi sơn hà,
Đều về cởi áo.
Thiên hạ điên đảo,
Là đô đất Guồn.
Nhanh tựa cánh chuồn,
Khố bao mười thước.
Đố ai vật được?
Đô phủ Từ Sơn.
Hai tay cờn cờn,
Mình như lửa cháy,
Chân tựa ống đồng,
Hở miếng là xông.
Này đô xứ Đông,
Mình tròn hổ dữ.
Bất động bất cử,
Như đá chống trời.
Thế mà trăm nơi,
Phục tài bỏ giỏ.
Này đô Đình Có,
Nó ở đâu ra,
Lưng rộp bánh đa,
Như cây mít mật.
Chân tung, tay hất,
Lẳng khẳng xương rồng.
Lừng tiếng xứ Đông,
Lại vang xứ Bắc.
Khoan khoan tôi nhắc,
Đô của Nam Xang,
Cái tiếng đã vang,
Cái danh đã khắp,
Người trông thẳng tắp,
Bụng gió đượt đườn.
Cái vai thươn thươn,
Cái lưng bè bẹ.
Sang đô xứ Kẻ,
Tôi kể làng nghe.
Vai như cái đe,
Hất ngang hất ngửa,
Đến thở hơi tai,
Vì cái đôi vai,
Chấp tài vô cự.
Sang đô Trung Thứ,
Tài miếng nhử mồi,
Ngồi thụp úp nồi.
Vọt lên đội ngược,
Thiên hạ như nước.
Này đô Lam Cầu.
Nhìn tưởng ba đầu,
Một đầu toàn tóc,
Hai đầu long lóc,
Trên cái vai trường.
Đô xứ Lạng Chương,
Bụng đét ễnh ương,
Lằng khà lằng khẳng,
Tắm sương gội nắng,
Ở xứ rừng về,
Mà nó đến ghê,
Nhanh như con sóc.
Miếng chòi, miếng mói,
Đệm cẳng, khoá lưng.
Thiên hạ đã từng,
Kêu lên oai oái!
Sang đô Đầm Tái,
Như cái cối xay,
Buộc chỉ cổ tay,
Thề đi là được.
Sang đô Mụa, Đước,
Tay tựa rắc hoa,
Múa bổng múa la,
Mềm như con cúi,
Nhiều anh đâm chúi,
Ngã ngửa bất ngờ,
Rồi anh sững sờ,
Tài nhanh như biến.
Này đô Thuỷ Tiến,
Trông mới lạ kỳ,
Hình hịch bước đi,
Vú tròn trôn bát,
Lông mày lưỡi mác.
Con sư tử cường,
Giật gió phi thường,
Chồm lên như sấm.
Này đô cửa Cấm,
Cá rô mốc đầu.
Mình tựa đồng thau,
Lưng trần trâu mộng.
Hai tay dang rộng,
Như cánh đại bàng.
Còn ai mơ màng,
Sang đô Mậu Chử.
Thật là lử khử,
Nó lại lang nhang,
Vào vật chàng màng.
Như con gọng vó.
Có không, không có,
Bỏ miếng hững hờ
Tay nắm cầm cơ.
Mặc người sòng sọc.
Mặc người long lóc,
Mắt nó lừ lừ.
Thôi chết đứ đừ,
Vồ khoeo nó giật.
Vô tình để mất,
Một miếng mồi ngon...
Này đô Sái Cồn,
Ở đâu chẳng tá?
Tay nhấc cối đá,
Như nhấc cái nồi.
Một nhát bẻ đôi,
Năm cây tre đực.
Này ai đọ sức,
Đô vật xứ Pheo.
Rút gió vèo vèo,
Bỗng dưng đánh đốp.
Nó vỗ hai tay,
Người nó vọt bay,
Cao hai mươi thước.
Thôi thôi bất nhược,
Tôi kể còn dài,
Ở xứ La Mai,
Có đô La Mát.
Núi rừng có khác,
Dài nhẵng dài nhằng,
Như thể con trăn,
Uốn a uốn éo.
Chân đi vắt chéo,
Xong cuộc lên đây,
Nó mới giơ ngay,
Quai gồng, quai gánh.
Trông nó rút cánh,
Như rút cây que.
Cũng chẳng cần đè,
Cũng chẳng cần đệm.
Hay là nó ếm,
Mà tung qua đầu.
Ngàn đô thiên hạ,
Sang đô Đặng Xá.
Tôi kể làng nghe.
Người nó bè bè,
Như con rùa cộ.
Trông nó sồ sộ,
Nặng gớm nặng ghê,
Như một cái mê.
Cái mê bằng đá.
Úp đầu thiên hạ.
Bằng miếng bắt bò,
Tay co, chân co,
Vào trong mê đá.
Dù có phép lạ,
Cũng chẳng lật lên.
Dù có sức bền,
Cũng không nhấc nổi.
Từ sáng đến tối,
Nó cứ cù lì.
Nhè miếng bất kỳ,
Nó vùng trở dậy.
Thiên hạ trông thấy,
Cũng phải rùng mình.
Này đô Động Đình.
Tôi xin nhắc trước.
Hương trời sắc nước,
Ở mãi chùa Hương,
Không quản ngày đường,
Về đây dự hội.
Giã đá trong cối,
Một nhát nát tươm.
Ném ba thanh gươm,
Vút qua vòng lửa.
Cái ngực sấp ngửa,
Đỏ như nồi đồng.
Khó lòng mà xông,
Khó lòng mà đội,
Khó lòng mà đối,
Chẳng biết lối nào.
Miếng nó ra sao,
Thôi thôi chịu chết,
Cuối cùng mới biết,
Mẹo nó nghi binh.
Dấu thể tàng hình,
Sự tình là thế.
Để tôi xin kể,
Đô vật Hoa Lư.
Vừa bỏ tay tư,
Nó lăn long lóc.
Nào ngang nào dọc,
Như khúc gỗ tròn.
Lăn dập lăn dồn,
Vào chân đối thủ.
Nó ghì nó đú,
Từ dưới quật lên.
Dù giỏi miếng trên,
Cũng quay động địa.
Này sang đô Rịa,
Như con đỉa bò,
Ngẩng cổ lên dò,
Lôi thôi cụp xuống.
Trông đã dữ tướng,
Như cũng chẳng bằng,
Đô của Cát Đằng,
Đánh nhanh bằng chó.
Rượu ngon cứ tớp,
Vật xong mới say.
Mặt mũi đỏ gay,
Lại vào cạn chén.
Không bằng đô ném,
Ở xứ Hạ Bì.
Chẳng lý sự gì,
Khoẻ như hổ xám.
Thọc tay vào háng,
Túm lấy ngã ba.
Lẳng mạnh, ném xa,
Rầm rầm mặt đất.
Chưa bằng đô Nhất,
Nó có tài kênh.
Một nhoáng đã bềnh,
Người trên vai khoẻ.
Như bầy con trẻ,
Chơi ngựa nhong nhong.
Thế cũng ngoài vòng,
Đâu bằng Hoàng Cách.
Thật là rách trời,
Mà rơi xuống nó.
Mật ong hàng giỏ,
Hổ cốt hàng nồi.
Hai mắt vậc vồi,
Như đôi sao hoả.
Hai tay nghiêng ngả,
Như hai sừng trâu.
Sầm sập lắc đầu,
Lại thôi nhả miếng.
Ruộng rung đất chuyển,
Người xem nín hơi.
Ối thiên hạ ơi!
Nhìn kìa: nó bểu.
Nó bểu bằng sừng.
Đô vật xoã lưng.
Vắt trên tay nó.
Rồi nó hất gió,
Một cái đánh vèo,
Đô vật ngã nhào,
Cách xa mười thước.
Kìa trong Non Nước,
Ở đâu mà ra?
Tam Điệp thật là,
Trời sinh đất phủ.
Đầu hai chỏm nụ,
Cổ bằng cái cong.
Lưng rộng hai vòng,
Trần như gỗ gụ.
Chẳng cần lý sự,
Nhử miếng bắt mồi.
Ầm ầm thiên lôi,
Xông vào vật ngửa.
Lưng bằng cánh cửa,
Đô ở đâu kia?
Đầu đội một nia,
Bánh giầy Ba Chạ.
Thuồng luồng cũng lạ,
Vì cái bụng thời.
Nia bánh vơi rồi,
Mới xin làng nước.
Cho tôi vật trước,
Với đô nhất vùng.
Ai nấy lạ lùng,
Mới hay Kiện, Phạm.
Sang đô Bãi Đạm,
Cao chạm ngọn tre.
Đi đứng dề huề,
Con nhà nho nhã.
Trước tiên mặc cả,
Xách ai lả người.
Thì mới nhận lời,
Cùng nhau vật thử.
Như cành câu nhử,
Nó nhắc nhẹ tênh.
Trăm đô thiên hạ.
Ai nặng kha khá.
Nó mới vật qua,
Nó vật gọi là.
Ai ơi, tôi kể!
Đô ở Lợ, Lài.
Bước ra nằm dài,
Sai hai đô khoẻ.
Ra hai bên mé,
Khênh cối chất lên.
Cối đá bên trên,
Một chồng năm chiếc.
Chết kinh chết khiếp.
Bỗng nó thở phì.
Đất chuyển một khi,
Đá lăn lông lốc.
Xong rồi nó nốc,
Nửa vò rượu tăm.
Mặt nó vằm vằm,
Xông vào nó vật.
Thiên hạ mất mật,
Vì miếng cánh diều.
Trải lắm xem nhiều,
Mới hay đô Nội.
Đi bằng đầu gối,
Mà tựa tên bay.
Đứng dang hai tay,
Xoay như chong chóng.
Vì chưng trời ngóng,
Vì chưng đất mời,
Vì bốn phương trời,
Lại mười phương đất.
Nhưng mà vị tất,
Vì cái sức tài.
Tôi kể đã dài,
Nay chưa hết được.
Yên Bài như nước,
Hoà Mục như nêm,
Mụa, Mền như nấm.
Làng Đền, làng Nẫm,
Mõ sừng, thanh la.
Làng Quán, làng La.
Cồng thanh, não bạt.
Làng Vàng, làng Cát.
Trống đồng ngũ liên.
Làng Khoái, làng Yên,
Kèn kêu mõ gọi.
Môi cho đến Bói,
Cói cho đến Cần,
Cần cho đến Chấm,
Ầm ầm như sấm...
Nay thiên hạ nhân,
Nay thiên hạ tài,
Thiên địa cổ lai,
Nhân tài như nước.
Thế mới thực là,
Nghiệp Thánh nhà ta.
Hiển linh trời đất.
Nhân thần bất xuất.
Nghiệp Thánh còn dài,
Nay kể một bài,
Năm canh còn đượm.
Hương thờ còn đượm.

Hình: Cố đô Hoa Lư ngày nay
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.