題桂林驛其四

十日蒸雲似桂林,
薰風何處不披襟。
樹蟬爭響客懷苦,
庭菊未開秋夢深。
醉裏乾坤新使節,
吟邊山水舊知音。
無端夜半空階雨,
滴碎鄉關萬里心。

 

Đề Quế Lâm dịch kỳ 4

Thập nhật chưng vân tự Quế Lâm,
Huân phong hà xứ bất phi khâm.
Thụ thiền tranh hưởng khách hoài khổ,
Đình cúc vị khai thu mộng thâm.
Tuý lý càn khôn tân sứ tiết,
Ngâm biên sơn thuỷ cựu tri âm.
Vô đoan dạ bán không giai vũ,
Chích toái hương quan vạn lý tâm.


Nguồn: Uỷ ban phiên dịch sử liệu Việt Nam, An Nam chí lược, Viện Đại học Huế, 1961

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của nhóm Trần Kính Hoà

Mây un rừng quế mấy ngày thâu,
Hóng mát, nơi nào chẳng cởi bâu.
Ve gió reo vang ngao ngán khách,
Cúc vàng chưa nở ước mơ thu.
Kiền khôn mù tít say vương sứ,
Sơn thuỷ ngâm nga hỏi bạn bầu.
Bỗng trận mưa đêm đâu đổ xuống,
Đánh tan muôn dặm mối hương sầu.


Nguồn: Uỷ ban phiên dịch sử liệu Việt Nam, An Nam chí lược, Viện Đại học Huế, 1961
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Quế Lâm mây bốc mười ngày thâu,
Gió mát nơi nào chẳng cởi bâu.
Khách ngán ve tranh reo vọng tiếng,
Cúc vàng chưa nở thu mơ sâu.
Sứ đoàn trời đất mù say tít,
Sơn thuỷ ngâm bên hỏi bạn bầu.
Bỗng đổ nửa đêm mưa trút xuống,
Đánh tan muôn dặm nhớ quê sầu.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời