過賈誼舊居

楚鄉卑濕歎殊方,
鵩賦人非宅已荒。
謾有長書憂漢室,
空將哀些吊沅湘。
雨餘古井生秋草,
葉盡疏林見夕陽。
過客不須頻太息,
咸陽宮殿亦淒涼。

 

Quá Giả Nghị cựu cư

Sở hương ti thấp thán thù phương,
Phục phú nhân phi trạch dĩ hoang.
Mạn hữu trường thư ưu Hán thất,
Không tương ai tá điếu Nguyên Tương.
Vũ dư cổ tỉnh sinh thu thảo,
Diệp tận sơ lâm kiến tịch dương.
Quá khách bất tu tần thái tức,
Hàm Dương cung điện diệc thê lương.

 

Dịch nghĩa

Đất Sở ẩm thấp, than cho nơi xa lạ
Người làm bài phú “Chim cú vọ” không còn, nhà đã vắng
Uổng công cho bức thư dài lo cho nhà Hán
Chỉ còn thương xót khi viếng sông Nguyên Tương
Mưa nhiều giếng cũ mọc cỏ thu
Lá hết rừng thưa thấy nắng chiều
Khách đi qua không cần nhiều lần than thở
Vì cung điện Hàm Dương cũng thê lương


 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Điệp luyến hoa

Âm u trời Sở nỗi tha hương,
"Cú vọ" còn lưu đất đã hoang.
Uổng bức thư dài lo Hán thất,
Duy lòng thương xót viếng Nguyên Tương.
Mưa rơi giếng cũ sinh màu cỏ,
Lá rụng rừng thưa lộ bóng dương.
Khách chớ than thêm niềm tiếc nuối,
Hàm Dương điện cũ đủ thê lương.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Đất Sở ẩm than cho nơi lạ
Nhà hoang, bài “Cú vọ” không còn
Uổng công thảo sớ lo toan
Chỉ còn thương xót qua dòng Tương Nguyên
Mưa nhiều giếng xưa um cỏ biếc
Lá rụng rừng thưa tiếc nắng chiều
Khách đừng than thở quá nhiều
Hàm Dương cung điện tiêu điều còn hơn.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Phước Hậu

Xứ Sớ ẩm lầy đất khó khăn
Nhà người làm phú bỏ hoang tàn.
Tiếc công hưng Hán dâng trường sớ
Thương đến Nguyên Tương tựa viếng tang.
Giếng cũ mưa dầm sinh cỏ biếc
Rừng thưa lá rụng nắng chiều loang.
Khách qua chẳng thiết nhiều than vãn
vì điện Hàm Dương cũng phế tàn.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời