到渭城有感次鶴皋

憾顏重憶十年違,
撫事興懷萬緒悲。
九曲江流頻轉念,
三緘金口懍防非。
積憂髮白春難住,
報國心丹力則微。
故郡名都今試看,
誰家裘馬自輕肥。

 

Đáo Vị thành hữu cảm thứ Hạc Cao

Hám nhan trùng ức thập niên vi,
Phủ sự hưng hoài vạn tự bi.
Cửu khúc giang lưu tần chuyển niệm,
Tam giàm kim khẩu lẫm phòng phi.
Tích ưu, phát bạch xuân nan trú,
Báo quốc, tâm đan lực tắc vi.
Cố quận danh đô kim thí khán,
Thuỳ gia cừu mã tự khinh phì?

 

Dịch nghĩa

Nét mặt ngậm ngùi nhớ lại những sự trớ trêu mười năm qua,
Ngẫm lại sự đời mà muôn nỗi buồn bã.
Lòng quặn như dòng sông chín khúc, khi sực nghĩ tới sự việc,
Miệng phải bịt ba lần để đề phòng lời sai trái.
Chất chứa mối lo, mái tóc bạc phơ, xuân không trở lại nữa,
Báo đền ơn nước, tấm lòng son sắt, nhưng sức vóc đã suy.
Nay thử nhìn xem, quê hương cũ là kinh đô xưa,
Những con nhà ai mặc áo cừu nhẹ cưỡi ngựa béo?


Rút từ Tích chỉ tập.

Hạc Cao là hiệu của Đỗ Bỉnh Thành.

Nguồn: Đào Đức Chương, “Hội thơ không hẹn mà gặp”, Tập san Việt học, tháng 3-2020

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Việt Thao

Bùi ngùi ngẫm lại mười năm qua,
Muôn mối tơ vương nỗi nước nhà.
Bịt miệng ba lần phòng nói quấy,
Quặn đau chín khúc bởi sầu ra.
Lo đời, tóc bạc, đâu xuân thắm,
Báo nước, lòng son, đã tuổi già.
Quê cũ, đô xưa, nay ngó thử,
Áo lông, ngựa béo, lũ con nhà…

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Xuân Tảo

Mười năm biến đổi mấy pha phôi,
Việc rối bời tơ, luống ngậm ngùi.
Chín khúc ruột vò, đau chuyện nghĩ,
Ba lần miệng khoả, sợ lời sai.
Lo đời tóc bạc, xuân đâu nữa,
Báo nước lòng son, sức kém rồi.
Quê cũ, đô xưa, giờ ngắm thử,
Ngựa xe béo tốt những ai ai?


Nguồn: Thơ chữ Hán 1000 năm Thăng Long - Thiên Trường, Tài liệu tại Thư viện tỉnh Nam Định
tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Trả lời