Khi mở bản thảo tập thơ Dưới bóng ô liu của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, tôi bỗng thấy tim mình đập mạnh. Thời gian như thước phim quay chậm, đưa tôi trở về những ngày đặc biệt trong chuyến viếng thăm ngắn ngủi Palestine cùng ông và các nhà văn Việt Nam, cách đây đúng hai năm.

Từng ra nước ngoài không ít lần, nhưng chúng tôi chưa có trải nghiệm nào tương tự như trong chuyến đi ấy. Thấp thỏm xếp hàng chờ nhập cảnh. Vào Palestine nhưng bằng visa của Jordan mà thủ tục lại do biên phòng và hải quan Israel phụ trách. Vượt qua cửa khẩu rồi, lại tiếp tục vượt qua những hàng rào thép gai cuồn cuộn, những bức tường bê tông lạnh lẽo xếp thành pháo đài, và những họng súng từ các điểm checkpoint bên đường, nghi kỵ rê theo hướng di chuyển của xe ô tô cho đến khi vượt ngoài tầm bắn. Cảm giác đang đi trong một cỗ máy chiến tranh khổng lồ cứ đeo đắng chúng tôi suốt những ngày ở Palestine.

Chúng tôi đã đến những ngôi trường, thăm những ngôi làng đơn sơ, ăn cơm với những người nông dân, gặp gỡ các chính khách, uống cà phê tối trong quán bar của đám tuổi teen (họ cũng hút shisha), dạo quanh các khu chợ, tới những địa điểm linh thiêng và nổi tiếng của vùng Đất Thánh: nhà thờ Bethlehem, nơi Chúa Jesus ra đời trong máng cỏ; đền thờ nhà tiên tri Abraham (người Hồi giáo gọi là Ibrahim), được coi là tổ phụ của cả người Do Thái và người Hồi giáo; thung lũng Jericho, nơi được coi là trũng thấp nhất thế giới và có con người đến ở từ 7.000 năm trước; tới chân núi Cám Dỗ; rửa mặt bằng nước sông thiêng Jordan, nơi Chúa Jesus lần đầu làm lễ rửa tội; cúi đầu trước phần mộ vị Tổng thống đầu tiên của Nhà nước Palestine, Yasser Arafat; đứng từ xa (vì chỉ có thể từ xa) ngắm nhìn Biển Chết, giống một con cá lười biếng và thờ ơ trong nắng trưa vàng rực...

Chúng tôi đi bộ giữa màu xanh ốc đảo hiếm hoi ở Ramallah, ngắm những đàn dê lao nhanh như một cơn gió màu xám trên những triền núi kỷ hà và những đàn chim xuất hiện bất ngờ rồi biến mất vô tăm tích như chưa từng có mặt. Có những lúc chúng tôi thấy mình đang đi trên mặt trăng, trên sao hoả vì sự khô cằn hoang vắng trên mặt đất, nhưng phía trên lại là khoảng trời trong xanh sâu thẳm, vô định. Và đặc biệt, chúng tôi phải làm quen với âm thanh trên bầu trời đó, tiếng máy bay ầm ì suốt ngày đêm, cho dù ở Palestine không có sân bay nào cả. Đêm về, chúng tôi âm thầm mở máy tính hoặc sổ tay, ghi chép, và viết.

Trong suốt thời gian ấy, tôi luôn quan sát ông. Một người đàn ông tự nhận mình là “Coffee man”, trầm ngâm uống loại cà phê duy nhất, có hương vị của loài thảo dược, thoạt tiên khá khó chịu, rồi dần quen và trở thành một nhu cầu. Lắng nghe ông phát biểu và dịch, đôi khi ông chủ động nói bằng thứ tiếng Anh chính xác và duyên dáng của ông. Có những buổi sáng, ông dậy, một mình đi dạo trên những con phố nhỏ gần khách sạn, chụp những bức ảnh nhiều màu sắc bằng con mắt hội hoạ và chúng tôi chỉ biết đến chuyến vi hành ấy khi ông post ảnh lên nhóm zalo. Mỗi lần nghe chó sủa từ ngôi nhà đối diện với khách sạn Beauty Inn nơi chúng tôi nghỉ lại, tôi thấy ông bỗng trở nên phiền muộn khác thường...

Những mảnh vụn ký ức ấy được chắp nối thành mảnh ghép hoàn chỉnh khi lúc này, tôi đọc 28 bài thơ trong tập thơ Dưới bóng ô liu. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã kể cho chúng ta bằng trái tim thi sĩ câu chuyện về một vùng đất đau thương và nhẫn nhịn, lạc quan và can đảm, chứa đựng bất công và thù hận, cần được cả thế giới thấu hiểu. Tôi bỗng nghĩ đến bức tranh nổi tiếng của danh hoạ Picasso, vẽ con chim bồ câu ngậm cành ô liu bay lên, được chọn là biểu tượng cho khát vọng hoà bình thế giới. Bức tranh ấy ra đời cách đây gần 100 năm, nhưng hoà bình với nhân loại nói chung và người Palestine nói riêng vẫn còn rất xa...

Cuộc chiến trên mảnh đất Palestine tuy không liên tục, có những khoảng hoà hoãn cho hy vọng, nhưng đến nay vẫn là một trong những cuộc xung đột dai dẳng nhất trong lịch sử nhân loại hiện đại. Sự biến động khó lường giữa các mối quan hệ và thoả thuận quốc tế, lợi ích địa chính trị của các siêu cường, sự khác biệt văn hoá, tôn giáo và toan tính của các nhà chính trị... làm nảy sinh vô số phức tạp đòi hỏi sự ứng xử nhạy cảm, công bằng và tinh tế. Sẽ có rất nhiều điều tai nghe, mắt thấy nhưng viết về nó lại không hề dễ dàng.

Nguyễn Quang Thiều là người đầu tiên trong đoàn nhà văn Việt Nam viếng thăm Palestine đã vượt qua những thách thức đó bằng tài năng và tư tưởng của một thi sĩ. Ông đã mở đầu với lời đề từ: “Không có lời biện hộ nào cho mọi sự giết chóc”. Đó là cũng là thái độ công dân của một dân tộc đã trải qua gần 80 năm bị người Pháp đô hộ và 30 năm chiến tranh vệ quốc vô cùng ác liệt, nhiều mất mát, để hoàn thành sự nghiệp độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc.

Dưới bóng ô liu, Nguyễn Quang Thiều đã sử dụng triệt để bút pháp hiện thực. Làm sao có thể viết khác trước hiện thực mạnh mẽ và ám ảnh tới từng phút từng giây như vậy? Những câu chuyện và nhân vật trong các bài thơ ông viết đều là người thật, việc thật: cậu bé Dalal Abu lên mười (Hồ thiên đường), nữ sinh viên Sadeel (Lời kinh cho Sadeel) - những người vô tội vừa bị lính Israel bắn chết ngay trước và trong chuyến đi của chúng tôi. Nhà thơ Murad Sudani - Chủ tịch Hội Nhà văn Palestine (Bài ca buồn cho Murad), một người bồi bàn (Người hầu bàn ở Beauty Inn), những nữ chiến binh Israel xinh đẹp lăm lăm súng (Gương mặt Đức Mẹ)...

Tất cả như quay cuồng trong một thế giới mà con người buộc phải hành động theo quán tính bất lực, trong sự nghi kỵ và sợ hãi. Nhà thơ đã nhìn thấy chân dung đích thực của người hầu bàn lịch thiệp, hiếu khách khi một mình trong phòng ăn

Tối như một hầm mộ
Và nhận ra ông đang gục đầu
Trước chiếc xe đẩy chở đồ ăn
Với một chiếc đĩa khống lồ trống rỗng
Đợi một ngày bày lên một miếng TỰ DO.
Những cô gái Israel dù có gương mặt đẹp như Đức Mẹ nhưng ông:
Chỉ thấy đôi mắt
Của những cô gái đẹp
Soi trên những hộ chiếu
Và thị thực nhập cảnh
Còn con mắt chỉ có tròng đen
Của những họng súng
Nhìn thẳng vào tôi.
Với Murad, người đàn ông mạnh mẽ, u sầu, mang sứ mệnh của người cầm bút thì:
Đêm qua anh quỳ xuống
Hai bàn tay mở ra
Một tay đụng đầy chữ
Một tay máu chảy ròng ròng...
Đến những địa điểm linh thiêng như sông Jordan, núi Cám Dỗ... ông không tìm được sự thanh thản hay sự che chở, mà luôn dằn vặt về những điều vô lý, vô nhân diễn ra hằng ngày, để cay đắng nhận ra:
Có rất nhiều kẻ
Tìm đến khúc sông này
Làm lễ rửa tội
Rồi trở về
Gây tội trên một dòng sông khác
(Lễ rửa tội ở sông Jordan)
Nhưng câu chuyện xúc động nhất bên dòng sông là khi Nguyễn Quang Thiều kể Về một chiếc giá nến cũ. Một bà cụ người Palestine bán đồ cũ luôn mang theo bên mình chiếc giá nến tuyệt đẹp. Bà bày ra cùng những món đồ khác, nhưng không bao giờ bán nó. Bởi vì nó là kỷ vật cuối cùng còn lại trong ngôi nhà đã bị tên lửa phá huỷ, giết chết con trai, con dâu và những đứa cháu nội của bà. Khi nhà thơ ôm chiếc giá nến “như đang ôm những thi thể” người thân của bà, thì bà cụ đã hỏi ông đến từ đâu, và khi biết ông là người Việt Nam, bà đã tặng không cho ông chiếc giá nến báu vật ấy. Và ông đau đớn nhận ra, không phải ánh sáng, ánh lửa, mà:
Ánh mắt chủ nhân chiếc giá nến đã tắt
Bóng tối trùm phủ ngôi nhà ký ức
Nhưng câu chuyện của người mẹ khổ đau
Không bao giờ ngừng kể...
Chỉ đến lúc này, trong tận cùng của hiện thực, ông quay lại với bút pháp hiện thực - huyền ảo vốn mang thương hiệu của mình, kế nốt câu chuyện khi đã trở về Việt Nam:
Vào một đêm tôi thắp nến trên chiếc giá nến cũ ấy
Bỗng có ai gọi tôi
Không, đấy là một tiếng kêu
Tôi quay lại và nhận thấy
Bóng tôi in trên tường
Đang kéo áo tôi.
Khi Ngước lên bầu trời, ông muốn thấy một điều gì đó mang lại chút bình yên để làm dịu tâm hồn mình trong khoảnh khắc vì ông không tìm thấy nó trên mặt đất, nhưng vẫn chỉ thấy:
Lỗ nòng súng - một con mắt đen ngòm
Không bao giờ khép
Dối theo những bữa ăn
Dõi theo những bài thơ
Dõi theo lời nguyện cầu
Và dõi theo cả tiếng thì thầm
Của người đàn ông và người đàn bà
Trên chiếc giường phủ đầy bóng đêm...
Ranh giới giữa ảo và thực không còn rạch ròi nữa, đó là lúc hiện thực trần trụi trở thành nỗi đau của nhân phẩm bị vùi dập, của lương tri bị xúc phạm, của tự do bị cầm tù cả hữu hình lẫn vô hình. Nhà thơ đang cùng người dân Palestine và tôi nghĩ rằng cả với người dân Israel nữa đi trên mặt đất:
Trên con đường các vị Thánh từng đi
Những con đường sau hơn 2000 năm
Không còn ngổn ngang sỏi đá
Nhưng ngổn ngang số phận
Bất hạnh và bì thương
Thay vào những dấu đình,
Đóng trên thân thể Chúa Jesus
Là lỗ đạn
Trên ngực người vô tội
Và hai lá phổi
Của những người đã chết
Vẫn chứa đầy ngôn từ Tự Do
(Chim én ở Ramallah)
Trong tuyệt vọng, nhà thơ lại ngước lên bầu trời. Lần này, thay vì những con mắt đen ngòm của họng súng, ông nhìn thấy:
Bay từ rạng đông tới hoàng hôn
Những con én vùng Ramallah
Như không tìm được nơi đậu xuống
...
Những con én vùng Ramallah
Bay ngang dọc bầu trời
Đấy linh hồn những người bị giết
Hoá thành những chiếc kim khẩu
Kiên nhẫn vá những mảnh trời rách nát.
Với người Việt, chim én báo hiệu mùa xuân. Tôi không biết chim én với người Palestine biểu tượng cho điều gì, nhưng hình như loài chim thường có sứ mệnh mang linh hồn của người đã khuất, giống như đàn sếu trong thơ của Rasul Gamzatov mang linh hồn những người lính Hồng quân trở về quê hương.

Những con én ở Ramallah kiên nhẫn vá lại những mảnh trời rách nát. Còn con người? Anh đang ở đâu? Anh đang làm gì? Tập thơ này là lời nguyện cầu cho hoà bình, kêu gọi sự thức tỉnh bằng những câu hỏi như thế.

Và điều cuối cùng, Dưới bóng ô liu là một bản song ngữ đặc biệt. Tác giả là cha và người chuyển ngữ sang tiếng Anh là con gái của tác giả. Hẳn dịch giả Nguyễn Thị Tuyết Ngân rất hiểu cha mình, còn cha cô cũng đã để lại dấu gen thi ca trong con gái, nên cả hai văn bản đều mang vẻ đẹp tinh thần của một tập thơ tuy không dày nhưng mang sức nặng của tư tưởng, của tinh thần nhân đạo và khát vọng tự do.


Hữu Việt
"Vũ tâm son sắt giữa đất trời,
Phong sương mặc kệ, chí chẳng vơi.
Lĩnh cao một cõi hiên ngang đứng,
Soi rọi nghìn năm đất muôn nơi."