Than rằng:
Cơ tối sớm ngẫm chóng lâu mấy chốc, người sống luống tiếc lẫn người chết, chết được vào nơi trung nghĩa, vắng âm dung nhưng chẳng vắng tinh linh;
Đạo tớ thầy dù đắng ngọt có nhau, khi vui nên lại nhớ khi thương, thương vì cũng phận truy tuỳ, cùng ưu hoạn lại chẳng cùng an lạc.

Kiếp đoản tu nghĩ những ngập ngừng;
Niềm chung thuỷ kể thêm man mác.

Cảm vui ai nấy:
Dốc chí làm tôi;
Đem thân cho nước.

Kẻ theo thầy trải ngàn cây dặm suối, nắm lông hồng lòng địch khái nhơn nhơn;
Kẻ theo thầy nơi lạch giá làng mây, cầm bánh lái chí thệ thanh sắc sắc.

Bắc cầu mở núi, gian khổ riêng chia;
Đứng mũi chịu sào, cần lao đỡ lắm.

Đốt tay trải Bính Ngọ, Đinh Mùi tới Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, những tắm mưa chải gió bấy nhiêu năm;
Gấp bước từ Cao Miên, Xiêm La ra Gia Định, Quy Nhơn, Phú Xuân, những đột pháo xung tên là mấy thốc.

Cuộc chinh chu trong ngần ấy ruổi giong;
Người trung dũng biết bao nhiêu rời rạc.

Ngoài phong lãng thương những người phận rủi, gửi thịt xương cùng cát nổi bèo trôi;
Dưới cung đao khen những đấng anh hùng, trả cơm áo với tên bay đạn lạc.

Lửa chai đốt quạnh, thấp thoáng khói hương;
Gió lốc thổi khuya, ngổn ngang phận bạc.

Nơi cố luỹ cơ man mũi sắt, buộc lưng tráng sĩ biết đâu tìm;
Chốn tha hương rêu rủ thước rèm, dáng mặt chinh phu khôn thể mạc.

Mây mờ cây ngất, đâu nẻo sơn khưu;
Khói toả sương tuôn,đấy chừng hải giác.

Dãi danh tính mặc trục trời ván đất, bơ vơ ngàn dặm dấu bay hồng;
Nói tuế thời dù rượu nước đèn trăng, lạnh lẽo muôn xưa bề khứ hạc.

Đeo sầu hoa cỏ cũng đìu hiu;
Nuốt giận muông chim dường nhớn nhác.

Đau đớn nhỉ một phen sinh hoá, giấc Hàm Đan bao quá kịp giờ kê;
Xót xoa trong nửa kiếp công danh, dòng Nhị thuỷ chẳng trừ cho nước bạc.

Cương liệt kia rút lại khí non sông;
Gian nan ấy thiệt riêng phần chuông vạc.

Sổ công thưởng đệ lên nơi bắc khuyết, khắp mặt cả bạn cũ tôi thân, kể trung người dũng, điểm tên ra càng thương phận so le;
Tiếng khải ca nghe lừng mái đông lân, đau lòng chăng cha già mẹ yếu, vợ goá con côi, đón tin hỏi lại ngại tình ngơ ngác.

Ôi!
Thu diệp rụng rơi;
Thần tinh lác đác.

Ngọn còi rúc nguyệt, thét tiếng thê lương;
Dịp trống làn sương, rộn hồi tiêu tác.

Phen chinh chiến có khỏi oan sao được, kìa bài Phì Thuỷ, kìa nấm Cơ Sơn;
Chí cung tên mà chẳng phụ thì hơn, lọ dự Vân Đài, lọ riêng Yên Các.

Đỉnh Hành Sơn xây vãng sự đòi lần;
Dòng Lư Thuỷ nhận ly sầu mấy thước.

Công lao cũ bây giờ chưa trả được, kẻ khuất cũng xem bằng người tại, tấm lòng đây đà tạc khoán thứ riêng;
Tình nghĩa xưa ai nấy dễ quên ru, thân này chót thiệt đến thân sau, nghìn năm nữa lại vầy ngư thuỷ khác.

Về niềm khế khoát, một bức ai tiên;
Rót nỗi tân toan, ba tuần bạch chước.

Hồn phách dầu gần xa cũng vậy, hễ mà thấy dấu cờ, nghe hiệu trống, vị thứ đâu lại cứ thuở bình sinh;
Lễ nghĩa đâu nhiều ít mà chi, gọi rằng mươi giọt nước, vài lưng rau, tinh kiền ấy ngõ thấu lòng thư tước.


Khi vua Gia Long mới bình định trong nước, làm lễ tế trận vong tướng sĩ, cho lập đàn ở xứ Đống Mối phía ngoài kinh thành Phú Xuyên, sai Bá Xuyến làm bài này để tế.

Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 117, tháng 5-1927