Bình luận nhanh 0

Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.

1. Ghe bầu các lái đi buôn,
Đêm khuya ngồi buồn, kể chuyện ngâm nga.
Bắt từ Gia Định kể ra,
Anh em thuận hoà ngoài Huế kể vô.
Trên thời ngói lợp toà đô,
Dưới sông thuỷ cát ra vô dập dìu.
Trên thời vua Thuấn, vua Nghiêu,
Ngoài dân, trong triều toà chính sửa sang.
Trên thời ngói lợp toà vàng,
10. Dưới dân buôn bán nghênh ngang chật bờ.
Này đoạn các lái trở vô,
Thuận An là chốn thuyền đô ra vào.
Vát ra một đỗi khơi cao,
Ta sẽ lần vào thì tới Cửa Ông.
Nay đà giáp phủ Thuận Phong,
Hòn Am, Cửa Kiểng nằm trong thay là.
Nới lèo, ráng bánh trở ra,
Khỏi mũi Châu Mới thì ta lần vào.
Ngó lên núi Ải rất cao,
20. Ta sẽ lần vào Hồ Chuối, Hang Dơi.
Ghe vô củi nước nghỉ ngơi,
Hòn Hành nằm đó là nơi Cửa Hàn.
Cửa Hàn còn ở trong xa,
Ngoài mũi Sơn Trà lại có Hòn Nghê.
Bãi Nồm, Bãi Bấc dựa kề,
Mỹ Khê làng mới làm nghề lưới đăng.
Ngó về Non Nước thẳng băng,
Có chùa thờ Phật, Phật hằng linh thiêng.
Lao Chàm nay đã gần miền,
30. Hòn Lá, Hòn Lụi nằm liền Hòn Tai.
Năm hòn nằm đó không sai,
Hòn Khô, Hòn Dài lố nhố thêm vui.
Ngó về Cửa Đợi thương ôi,
Hòn Nồm nằm đó mồ côi một mình.
Tam Ấp, Xà Bứa có rạn trời sinh,
Bàn Than, Cửa Lỡ liên kinh An Hoà.
Sa Cần, Châu Ổ bao xa,
Ngoài mũi Cây Quýt thiệt là Tổng Binh.
Lâm châm, cỏ ngựa trời sinh,
40. Làng Gành, Mỹ Giảng ăn quanh Vũng Tàu.
Nới lèo, ráng lái mau mau,
Châu Me, Lò Rượu sóng xao Hòn Nhàn.
Vát mặt xem thấy Bàn Than,
Ngoài cù lao Ré nằm ngang Sa Kỳ.
Quảng Ngãi, Trà Khúc núi chi?
Có hòn Thiên Ấn dấu ghi để đời.
Hòn Sụp ta sẽ buông khơi,
Trong vịnh, ngoài vời, núi đất mênh mang.
Buồm giăng ba cánh sẵn sàng,
50. Anh em chúng bạn nhiều đàng tư lương.
Mỹ Á, Cửa Cạn, Hàng Thương,
Chạy hết Bãi Trường xích thố băng băng.
Vát ra khỏi mũi Sa Hoàng,
Kìa kìa ngó thấy Tam Quan nhiều dừa.
Hèn chi lời thốt thuở xưa,
Nam thanh nữ tú đã vừa con ngươi.
Gặp nhau chưa nói đã cười,
Kìa mũi Từ Phú là nơi nhiều ghè.
Non xanh nước biếc chỉnh ghê,
60. Núi Hương, Gành Trọc dựa kề Lộ Giao.
Ngó ra thấy lố Khô Cao,
Ta sẽ đi vào cửa cạn Hà Ra.
Bàu Bàng, Gành Mét bao xa,
Trống Kinh, Hòn Đụn thiệt là Lố Ông.
Ngó vô thấy mũi Vi Rồng,
Hòn Lan, Nước Ngọt ăn vòng Hòn Khô.
Trực nhìn Suối Bún, Vũng Tô,
Ông Ầm nằm đó lớn to vô hồi.
Thương cha nhớ mẹ bùi ngùi,
70. Hòn núi Kẻ Thử có người bồng con.
Nhớ lời thề nước hẹn non,
Bồng con tạc đá ghi son để đời.
Vũng Nồm, Vũng Bấc buông khơi,
Trong vịnh ngoài vời, Hòn Cỏ, Hòn Cân.
Nam Lò, Eo Vượt rần rần,
San Hô, Mũi Mác ăn lần Hòn Mai.
Cửa Giã có hòn án ngoài,
Các lái thường ngày hay gọi Lao Xanh.
Vũng Mú, trong vịnh ngoài gành,
80. Cù Mông, Vũng Trích ăn quanh bãi liền.
Gành Bà ai khéo đặt tên,

Cảnh Dương, Gành Móm nối liền Vũng La.
Bắt từ Vũng Lấm bương qua,

Xuân Đài, Mũi Yến chạy qua Sông Cầu.
Mái Nhà, Cát Xối liền nhau,
Sơn thuỷ sắc màu tợ gấm kim quy.
Ngó vô mây nước cực kỳ,
Trong thì có mả, ngoài thì có lao.
Giữa kinh có một Hòn Trào,
90. Hòn Yến, Hòn Mác ăn vào Ma Liên.
Hòn Chùa, Hòn Dứa nằm riêng,

Chóp Chài nằm đó ăn liền Bãi Dinh.
Ngó vô thấy tháp xinh xinh,
Nới lèo, ráng lái Bãi Dinh dặm dài.
Tuy Hoà cách chẳng bao dai,
Qua khỏi nơi này tới cửa Đà Nông.
Hòn Khô đá chất chập chùng,
Thông trong có vịnh, giữa dòng có kinh.
Mũi Nạy có Đá Bia xinh,
100. Tạc để lưu truyền nối nghiệp Hùng Vương.
Vũng Rô núi tấn bốn phương,
Mịt mờ sơn thuỷ như sương tựa đồ.
Bịt bùng chỉ một đường vô,
Dầu nồm, dầu bấc không xô phía nào.
Hòn Nưa không thấp không cao,
Ta sẽ đi vào Bãi Võ sóng ngang.
Hòn Gầm sóng vỗ đá vang,
Chạy khỏi Cát Thắm lại sang Đồi Mồi.
Anh em thề thốt than ôi,
110. Chạy khỏi Đồi Mồi tới đầm Bà Gia.

Ngó vô bãi cát Trường Sa,
Có mũi Đăng Lưới, không nhà thôn dân.
Xa Cừ nay đã hầu gần,
Lần qua Bãi Giếng lánh thân Trâu Nằm.
Nam lò Hòn Khói tăm tăm,
Cứt Chim, Hòn Bạc, Cây Sung, Chà Là.
Nha Trang, đất Chụt bao xa,
Kẻ vô mua đệm, người ra mua chằng.
Gặp nhau chào hỏi lăng xăng,
120. Xùng xình Bãi Miễu, phăng phăng lướt vào.
Nhìn ra Nội, Ngoại sóng xao,
Vát mũi chạy vào Bãi Dài, Con Nghê.
Chụt đèn ngó xuống chỉnh ghê,
Ngó về Hòn Tý dựa kề Cam Linh.
Mò O, Dỏ Tó rất kinh,
Lại thêm Đá Vách dựa kề Vũng Găng.
Vũng Găng, Đá Vách tựa thành,
Hai bên núi tấn vây quanh như buồng.
Mặc dầu thuyền đậu bán buôn,
130. Nào ai đình trú ở luôn mặc lòng.
Túi thơ bầu rượu rong chơi,
Buồm giương ba cánh nhắm vời chạy ra.
Nam mù mù, Hòn Chông, Bãi Lúa,
Khỏi Ma Văn mới tới Phan Rang.
Vũng Tròn lai láng nguồn cơn,
Trông xa thăm thẳm là rừng Mũi Dinh.
Qua Mũi Dinh cho liền Chín Vại,

Tắt mặt trời bẻ lái đi ra.
Nhắm chừng Bãi Lưới băng qua,
140. Hướng tây chỉ mũi, lái đà gác đông.
An Hoà lẳng lặng muôn phần,
Bãi Tiên đã khỏi, Khu Ông lại gần.
Lao Cao, Cà Ná là đây,
Lòng Sông, Mũi Chọ thẳng ngay La Gàn.
Ngó vô thuyền đậu nghênh ngang,
Gành Son, Trại Lưới tiếng vang làng nghề.
Cửa Duồng nay đã gần kề,
Lạch kia Phan Rí ghe nghề xôn xao.
Nhắm chừng Mũi Nhỏ băng qua,
150. Vũng Môn, Đá Dựng đã xa Hòn Hường.
Hòn Nghề, Quang Thí dựa nương,
Hòn Rơm, Mũi Né là đường vô ra.
Ghe thuyền tụ tập gần xa,
Phú Hài, Phan Thiết ấy là trạm trung.
Hỡi ai đốn củi Gành Thông,
Sơn lâm một gánh chất chồng hai vai.
Kê Gà nay đã đến nơi,
Anh em làm lễ một hồi cho qua.
Nới lèo, quay lái trở ra,
160. Hòn Lan, Cửa Cạn ấy là Tam Tân.
Sóng ào ào, buồm giương ba cánh,
Chạy một hồi tỏ rạng La Gi.
Hòn Bà, Rạn Gõ một khi,
Ngoài khơi Rạn Đập, trong ni Rạn Hồ.
Buồm giương ba cánh chạy vô,
Hòn Bà, Hóc Kiểm quanh co Hồ Tràm.
Kim ngân lễ vật cúng dường,
Lâm râm khấn nguyện lòng thường chớ quên.
Bãi Giống chạy thẳng Xích Ram,
170. Lưới Rê qua khỏi, Rạn Cam nằm ngoài.
Ngoài Ba Luỹ sóng rền Cửa Cạn,
Vát một hồi tỏ rạng Thuỳ Vân.
Ngoài Kỳ Vân trong liền Giếng Bộng,
Vát một hồi lồng lộng ra khơi.
Ba non chót vót cao vời,
Muốn cho khỏi rạn phải lơi ra ngoài.
Vũng Tàu kia đã đến rồi,
Trình đồn, rồi lại thẳng nơi Sài Gòn.
Nhà Bè nước chảy chia hai,
180. Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.


Vè các lái, cũng có nơi gọi Hò các lái, hay Vè thuỷ trình, thực chất là một bản hải đồ thô sơ do những người làm nghề vận tải đường biển từ Huế vào đến Vũng Tàu và ngược lại (bài hát ra), sáng tác, đúc kết, dưới hình thức vần vè, trong đó miêu tả đầy đủ các địa danh với những mũi, những hòn, cù lao, rạn đá ngầm hoặc san hô, những vũng, những núi, bến cảng, cửa sông, phố xá và cả những nơi hiểm trở thường gây tai nạn cho thuyền bè qua lại. Bài vè này được sáng tác và hoạn thiện dần bởi nhiều người, và có nhiều dị bản.

[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]