Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Kinh thi
Thời kỳ: Chu
2 bài trả lời: 2 bản dịch

Một số bài cùng tác giả

Đăng bởi Vanachi vào 05/10/2005 13:43

墓門 2

墓門有梅,
有鸮萃止。
夫也不良,
歌以訊之。
訊、予不顧,
顛倒思予。

 

Mộ môn 2

Mộ môn hữu mai,
Hữu hiêu tuỵ chi.
Phu dã bất lương,
Ca dĩ tuý (tấn) chi,
Tấn dư bất củ (cố).
Điên đảo tư dữ (dư).

 

Dịch nghĩa

Cửa mộ có cây mai,
Có con vọ đậu lên,
kẻ ấy không lương thiện,
Thì ta ca lên mà báo cho biết.
Tá báo cho biết mà không chịu nghĩ đến ta,
Đến khi khốn đốn mới chịu nghĩ đến ta (thì làm sao kịp đặng).


Chú giải của Chu Hy:

Chương này thuộc hứng.

xi hiêu: con cú vọ, loài chim kêu tiếng rất xấu xa, dễ ghét.
tuỵ: tụ tập lại.
tấn: báo cho biết.
điên đảo: dáng khấp khểnh, khốn đốn.

Hoặc nói rằng chữ dư trong tấn dư ngờ là y như chữ nhi (trong tri nhi bất dĩ) ở chương trước.

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Tạ Quang Phát

Cửa mồ mai đã mọc lên,
Có con chim vọ đậu trên đấy rồi.
Kẻ không lương thiện đương thời,
Hát ca với bấy nhiêu lời cáo tri.
Cáo mà chẳng đoái tưởng chi,
Đảo điên nhớ đến ta thì kịp sao ?

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Văn Thọ (I)

Cổng mồ có mọc cây gai,
Đầu cành cú vọ một hai dập dìu.
Chàng kia gian ác trăm chiều,
Nên ta ca khúc nhắn điều thiệt hơn.
Nhưng chàng nào chịu khuyên lơn,
Sa cơ lúc đó mới buồn nhớ ta.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời