海上其一

日入空山海氣侵,
秋光千里自登臨。
十年天地乾戈老,
四海蒼生吊哭深。
水涌神山來白鳥,
雲浮仙闕見黃金。
此中何處無人世,
只恐難酬烈士心。

 

Hải thượng kỳ 1

Nhật nhập không sơn hải khí xâm,
Thu quang thiên lý tự đăng lâm.
Thập niên thiên địa can qua lão,
Tứ hải thương sinh điếu khốc thâm.
Thuỷ dũng Thần sơn lai bạch điểu,
Vân phù tiên Khuyết kiến hoàng kim.
Thử trung hà xứ vô nhân thế,
Chỉ khủng nan thù liệt sĩ tâm.

 

Dịch nghĩa

Mặt trời sau núi vắng biển bốc hơi
Nghìn dặm ánh thu trải sáng
Mười năm gươm giáo mãi trong khoảng đất trời
Dân lành trong bốn biển chịu tang tóc
Nước xối núi thần chim trắng bay
Mây bay cửa tiên thấy vàng
Trong đó nơi nào chẳng có cuộc sống
Sợ khó thoả được tấm lòng của các bậc hào kiệt


Bài thơ làm vào cuối thu năm Thuận Trị thứ 3. Trước đó một năm, Phúc vương, Lộ vương Nam Minh nối nhau về hàng nhà Thanh. Chiết Giang lập Lỗ vương, Phúc Châu lập Đường vương, giao từ xa cho tác giả chức binh bộ, chức phương tư. Mùa xuân năm đó, tác giả định đến vùng Mân, vì tang mẹ chưa chôn cất nên chưa đi được. Đến tháng 6, quân Thanh vượt sông Tiền Đường xuống nam, Lỗ vương bỏ Thiệu Hưng ra biển, Đường vương còn đóng ở Diên Bình, Phúc Kiến. Khi tác giả còn ở quê, lên núi trông ra biển, làm bài thơ này vào mùa thu.

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Hoàng Tạo

Trời chiếu đồi hoang khí biển tràn
Ánh thu nghìn dặm ngó mênh mang
Mười năm trời đất can qua nổi
Bốn biển nhân dân tiếng khóc vang
Nước dội núi Thần đây chim trắng
Mây đùn cửa Khuyết nọ hoàng kim
Chốn ấy nơi nào không kẻ ở
Chỉ e liệt sĩ khó ai tìm


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)
Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lê Xuân Khải

Khuất núi mặt trời biển bốc hơi
Ánh thu nghìn dặm toả nơi nơi
Mười năm trời đất gươm đao mãi
Bốn biển con dân viếng chóc hoài
Chim trắng thần sơn dòng nước xối
Cửa vàng tiên khuyết áng mây trôi
Nơi nào trong đó không nhân thế
Hào kiệt lòng e khó đáp bồi

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Trả lời