Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn bát cú
Thời kỳ: Trần
6 bài trả lời: 6 bản dịch
1 người thích

Đăng bởi Vanachi vào 04/07/2008 09:33

村居感事寄呈冰壼相公

稻畦千里赤如燒,
田野咻嗟意不聊?
后土山河方滌滌,
皇天雨露正迢迢。
吏胥網罟渾多竭,
民命膏脂半已消。
好把新詩當奏牘,
只今臥病未能朝。

 

Thôn cư cảm sự ký trình Băng Hồ tướng công

Đạo huề thiên lý xích như thiêu,
Điền dã hưu ta ý bất liêu?
Hậu thổ sơn hà phương địch địch,
Hoàng thiên vũ lộ chính thiều thiều!
Lại tư võng cổ hồn đa kiệt,
Dân mệnh cao chi bán dĩ tiêu.
Hảo bả tân thi đương tấu độc,
Chỉ kim ngoạ bệnh vị năng triều.

 

Dịch nghĩa

Ruộng nương nghìn dặm đỏ như cháy,
Đồng quê than van, không biết trông cậy vào đâu?
Non sông của Hậu thổ đang nứt nẻ,
Mưa móc của Hoàng thiên hãy còn xa vời!
Lưỡi tham quan lại vơ vét hết kiệt,
Mỡ màng của dân đã cạn mất nửa.
Xin đem bài thơ mới này thay cho tờ tấu,
Hiện nay đang nằm trên giường bệnh chưa thể đến chầu được.


Băng Hồ tướng công tức Trần Nguyên Đán, bố vợ tác giả.

Bài thơ có thể tả cảnh hạn hán đói kém, giặc dã quan tham vào các năm 1358 đến 1384. Đại Việt sử ký toàn thư ghi:
– Năm 1358: đại hạn và sâu ăn lúa, cá chết nhiều.
– Năm 1359: mưa lớn, nước to trôi cả nhà cửa, thóc lúa bị ngập.
– Năm 1362: sao chổi mọc. Đại hạn. Lại mưa to. Tha tù, giảm phân nửa tô thuế. Đói to.
– Năm 1369: mưa to gió lớn.
– Năm 1374: đại hạn.
– Năm 1379: đại hạn, đói to.
– Năm 1382: có nước to.

Năm 1384: qua bài thơ Giáp Tí hạ hạn, hữu sắc chư lộ đảo vũ, vị đảo nhi tiên vũ (Nhân hạn mùa hè năm Giáp Tí, có sắc chỉ cho các lộ cầu mưa, chưa cầu đã mưa), thì năm này bị hạn lớn.

Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB Khoa học xã hội, 1978

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (6 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đào Phương Bình

Mênh mông đồng lúa đỏ như thiêu,
Ngoài nội kêu than xiết nỗi sầu.
Dải đất non sông khô đến thế.
Từng trời mưa móc vắng làm sao!
Lưới tham quan lại vơ hầu kiệt,
Mạch sống dân gian cạn mỡ dầu.
Thơ mới này xin thay biểu tấu,
Vì đang nằm bệnh chửa về chầu.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Huệ Chi

Đồng điền nghìn dặm đỏ như thiêu,
Biết tính làm sao, nhộn tiếng kêu.
Đất nẻ, non sông khô đến thế,
Trời nung, mưa móc hiếm bao nhiêu.
Lưới tham quan lại vơ hầu kiệt,
Dầu mỡ dân gian cạn đã nhiều.
Thơ mới xin dùng thay bản tấu,
Chưa về chầu được, ốm nằm liều.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Ruộng nương ngàn dặm đỏ như thiêu
Đồng nội kêu than biết cậy đâu
Gò đất trông ra còn nứt nẻ
Móc mưa đợi mãi cứ xa vời
Mỡ màng con đỏ non phân nửa
Miệng lưỡi quan tham vét sạch rồi
Thơ mới dâng lên thay biểu tấu
Thân đang giường bệnh khó về chầu

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Văn Dũng Vicar

Ngàn dặm lúa đồng cháy đỏ màu
Than van vườn ruộng sống nhờ đâu
Non sông Hậu thổ đều trơ trụi
Mưa móc Hoàng thiên phải đợi lâu
Giăng lưới quan tham vơ hết sạch
Của tiền dân sống nửa tiêu mau
Xin trình thơ mới làm tờ tấu
Nằm ốm nên nay chửa thể chầu.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Ruộng nương nghìn dặm đỏ vàng nâu,
Đồng nội than van biết cậy đâu?
Hậu thổ non sông đang nứt nẻ,
Hoàng thiên mưa móc vẫn xa vời!
Mỡ màng của cải dân còn nửa.
Miệng lưỡi tham quan vét kiệt rồi,
Thơ mới đây dâng thay biểu tấu,
Hiện ta nằm bệnh khó về chầu.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Ruộng nương nghìn dặm vàng nâu,
Than van đồng nội cậy đâu bây giờ?
Núi sông hậu thổ nứt khô,
Hoàng thiên mưa móc vẫn mơ xa vời!
Mỡ màng của cải dân vơi.
Tham quan miệng lưỡi vét hôi kiệt rồi,
Dâng thay biểu tấu thơ tôi,
Hiện đang nằm bệnh khó hồi về kinh.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời