Mưỡu:
Dập dìu trăng mạn gió lèo,
Lỏng ngâm vân thuỷ lơi chèo yên ba.

Nói:
Cảnh Tây Hồ khen ai khéo đặt,
Trong thị thành riêng một áng lâm tuyền.
Bóng kỳ đài giăng mặt nước như in,
Tàn thảo thụ lum xum toà cổ sát.
Chiếc cô vụ, mảnh lạc hà bát ngát,
Hỏi năm nao vũ quán điếu đài.
Mà cỏ hoa man mác dấu thương đài,
Để khách rượu làng thơ ngơ ngẩn.
Yên tiêu Nam quốc mỹ nhân tận,
Oán nhập đông phong phương thảo đa.

Đồ thiên nhiên một áng yên ba,
Dễ khiển hứng câu thơ chén rượu.
Buồm nửa lá trăng thanh gió dịu,
Chiền đâu đây một tiếng chuông rơi.
Tây Hồ cảnh biết mấy mươi.


Hồ Tây ở phía tây bắc Hà Nội, chu vi hơn 12km. Ven hồ có đền Trấn Vũ, chùa Trấn Quốc, chùa An Quốc, điện Ngọc Hồ, đều là các thắng cảnh. Ở đây có nhiều di tích:
- Giữa thế kỷ thứ II, chị em Bà Trưng đánh nhau với tướng nhà Đông Hán là Mã Viện ở đây.
- Đến đời Lê, trạng nguyên Phùng Khoắc Khoan cùng hai bạn họ Ngô và họ Lý thả thuyền chơi trên Hồ Tây gặp công chúa Liễu Hạnh. Bốn người cùng làm thơ liên ngâm với nhau, nay còn truyền tụng.

Tây Hồ được các chúa Trịnh điểm xuyết thành ra nơi sơn kỳ thuỷ tú, phong cảnh hữu tình.
- Năm Vĩnh Tộ thứ 2 (1620) đời Lê Thần Tông, chúa Trịnh Tráng bắt 3 làng Yên Phụ, Yên Quảng, Trúc Yên đắp một con đê cắt ngang hồ lấy một phần gọi là hồ Trúc Bạch. Trên hồ Trúc Bạch có xây điện Trúc Tâm, chúa thường đưa bọn nữ nhạc ra chơi.
- Đời Huyền Tông (1663-1671), chúa Trịnh Tạc lập hành cung bên bờ Hồ Tây gần chùa Trấn Quốc để cùng thị thần cung nữ vui chơi.
- Đời Hiển Tông (1740-1786), chúa Trịnh Doanh, Trịnh Sâm xây bãi tắm ở phía làng Nghi Tàm, mùa hè ra tắm. Về phía làng Yên Thái có đắp một trái núi cao ước 600 thước, rộng hơn 2 mẫu, cho trồng từ đỉnh núi đến chân núi hàng nghìn cây bàng, cánh lá chi chít, mùa hè mà không lúc nào trông thấy mặt trời. Chúa Trịnh Sâm thường cùng Đặng Thị Huệ ra đó nghỉ mát. Giữa Tây Hồ có một ngọn núi đá nhỏ nổi ở trên bãi, chúa Trịnh Sâm cho xây chung quanh bãi nhiều cung điện nguy nga, rồi dựng điếu đài để câu cá.

Nguồn:
1. Đoàn Tử Huyến, Nguyễn Công Trứ - Cuộc đời và thơ, tr. 59, NXB Lao Động, 2011
2. Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề, Việt Nam ca trù biên khảo, Nhà in Văn Khoa, Sài Gòn, 1962

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (6 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

ĐẠI THÁNH

Tề thiên đại náo Thiên cung mãi,
Thượng Đế đau tim phải chạy dài .
Nhưng rồi Phật Tổ Như Lai đến,
Cảm hoá cho Người thấy chuyện sai

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

xin lỗi

Xin lỗi bạn nha

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

xin lỗi

Ồ, có gì đâu! Tôi thấy vui mà! Để lúc nào rảnh tôi hoạ bài Đại Thánh.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Sửa lỗi

Hình như 2 câu của Lưu Thương là
香销南国美人尽,怨入东风芳草多
Hương tiêu Nam quốc mĩ nhân tận
chứ không phải
Yên tiêu ....

Xin admin (anh Vanachi?) kiểm tra lại nhé!

Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

thảo luận thêm

Đây là lời một bài ca trù, việc đưa 2 câu chữ Hán vào đó cũng thường thấy trong thể cách của ca trù. Tuy nhiên, trích dẫn có đúng nguyên văn thơ cổ hay không lại là do ý đồ của tác giả. Vì vậy, phải kiểm tra lại văn bản chữ Nôm gốc chép bài này của Nguyễn Công Trứ chứ không phải kiểm tra lại thơ của Lưu Thương.

Du ư nghệ
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Chữ Yên hay Hương

Nghe bản hát trên youtube của Giáo phường Thái Hà sẽ thấy ca nương hát là "Hương tiêu" chứ không phải "Yên tiêu":

http://www.youtube.com/watch?v=wpnlG--lgqA

Ta chẳng muốn làm một mặt trời đỏ
Ôm hết mộng ngày
Ta chẳng muốn làm một ánh trăng bạc
Thâu hết đêm say
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời