Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc,
Nợ tang bồng vay giả, giả vay.
Chí làm trai nam bắc đông tây,
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.
Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

Đã hẳn rằng ai nhục với ai vinh,
Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ.
Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ,
Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong.
Chí những toan rời núi lấp sông,
Làm nên tiếng anh hùng đâu đấy tỏ.
Đường mây rộng thênh thênh cử bộ,
Nợ tang bồng trang trắng, vỗ tay reo.
Thảnh thơi thơ túi, rượu bầu.


Nguồn: Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề, Việt Nam ca trù biên khảo, Nhà in Văn Khoa, Sài Gòn, 1962

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (8 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

" Nhân sinh thế thượng thuỳ vô nghệ" ??

Có bác nào có bản chữ NÔM của bài này, xin UP lên cho rõ. Chứ 2 câu 5 và 6 sao giống, nhưng lại chưa chính xác với 2 câu cuối bài "QUÁ LINH ĐINH DƯƠNG" của VĂN THIÊN TƯỜNG

"人生自古誰無死,
留取丹心照汗清。 "

"Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh"

72.57
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

2 câu chữ Hán

Đó là do Nguyễn Công Trứ mượn hai câu kia thôi. Các cụ ngày xưa làm hát nói thỉnh thoảng vẫn hay chêm 1/2 câu chữ Hán vào, và thường lấy từ các bài thơ nổi tiếng của người trước.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
62.83
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

thảo luận

Đồng ý với bạn là thế, nhưng cụ HY VĂN nếu đã trích thì phải trích chính xác chứ có đâu lại chỉ khác mấy chữ.
Nguyên tác Văn thiên Tường:

Nhân sinh TỰ CỔ thuỳ vô tử
Lưu THỦ đan tâm chiếu hãn thanh

Thơ cụ Hy Văn:

Nhân sinh THẾ THƯỢNG thuỳ vô NGHỆ
Lưu ĐẮC đan tâm chiếu hãn thanh

Mà nếu để : thế thượng thuỳ vô nghệ, thì dịch nghĩa bài thơ thấy kỳ quá : sống ở đời, ai chả có 1 nghề ??!!

82.75
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

2 câu chữ Hán

Theo mình nghệ ở đây có nghĩa là tài năng, tài nghệ.

Có ai ở đời không có cái tài riêng
Lưu được tấm lòng son soi sử xanh

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
54.60
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Hai câu thơ chữ Hán

Hai câu thơ chữ Hán mượn từ bài "quá linh đinh dương"
của Văn Thiên Tường. Các sách văn học ở miền Nam trước 1972 đều ghi rằng:
Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hản thanh
Tuy nhiên các sách đều lầm lẫn cho rằng hai câu chừ Hán đó trích từ bài Chính khí ca của Văn Thiên Tường. Đến năm 1971 sinh viên  ban Việt Hán trường Dại học Sư phạm Sài gòn, Trần -Văn Phét, khi nghiên cứu về Văn Thiên Tường đã khám phá ra sự sai lầm đó và nhiều sách giáo khoa đã tu chỉnh.

43.50
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Dịch

các bác dịch giúp 2 câu
"Làm trai đứng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông"
bao gồm phần chữ hán- và phần phiên âm
cảm ơn ạ

33.33
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Nguyên văn là:

Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông.

Là cặp Luận, đối theo cách "Lưu Thuỷ" trong bài "Đi thi tự vịnh".

Đất Văn Lang
43.25
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bài thơ Quá linh đinh dương

過  零 丁 洋          Quá Linh Đinh Dương                 Qua biển Linh Đinh
辛苦遭逢起一經, Tân khổ tao phùng khởi nhất kinh,  Cay đắng gian nan trải phận đành
干戈寥落四周星。 Can qua liêu lạc tứ chu tinh.          Can qua lưu lạc bốn năm quanh
山河破碎風飄絮, Sơn hà phá toái phong phiêu nhứ,  Cuộc đời bèo bọt mưa trôi dạt
身世浮沈雨打萍。 Thân thế phù trầm vũ đả bình.     Sông núi hoa cành gió tướp banh
惶恐灘頭説惶恐, Hoàng Khủng nan đầu thuyết hoàng khủng,  Hãi sợ bến đầu nghe hãi sợ
零丁洋里歎零丁。 Linh Đinh dương lý thán linh đinh.  Lênh đênh bể tận thán lênh đênh
人生自古誰無死, Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử,          Người đời tự cổ ai không chết
留取丹心照汗青。 Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh Lưu giữ lòng son sáng sử xanh
文 千   祥        Văn Thiên Tường                                 Đông A dịch

15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời