Than rằng:
Mông mênh bể giác, bè từ xuôi ngược biết đâu lường;
Lãng đãng nước triều, cuộc thế nổi chìm khôn xiết nghĩ.

Chồi xuân rây tuyết thảm treo ngành;
Cây tử dính rêu sầu bám rễ.

Nhớ nghiêm phụ thuở phất roi danh lợi, bốn phương hồ thỉ chí ngang tàng;
Nhờ thượng ân khi lĩnh giấy tiện nghi, một dải non sông tay xử trí.

Trong gia đình trên thuận dưới hoà;
Ngoài phường vạn kẻ vì người nể.

Bạn tứ hải sum vầy sân Yến tử, theo dòng ruổi sóng mở lòng hào;
Thuyền ngũ hồ đủng đỉnh lái Đào công, đứng mũi chịu sào vui nước trí.

Giấc trăm năm những da mồi tóc bạc, thảnh thơi bến nguyệt dõi thanh xuân;
Bỗng bảy tuần mà tuyết lạnh sương pha, rong ruổi làng tiên tìm xích thuỷ.

Nghĩ cơn khế khoát mà đau;
Giở chuyện gia đình lại tẻ.

Tính cầm sắt đã ba phen đứt nổi, hai kẻ nỡ phụ phàng tơ thắm, một hãy còn mà duyên hôi phận hẩm thương thay!
Điểm quế lan vừa bảy độ vun trồng, ba chồi đà hiu hắt lá xanh, bốn ở lại nhà bạc cửa thưa ngán nhỉ!

Tưởng cù lao đà chua xót lòng con;
Nói báo đáp lại bẽ bàng mặt rể.

Đoàn cháu chắt lấy ai chia quả, bóng cây thấp thoáng luống mong người;
Lũ dâu con không tiếng dạy siêng, mặt nước lênh đênh thêm nhớ kẻ.

Nay:
Hầu rước linh xa;
Trước bày hương lệ.

Cám cảnh nương dâu bãi bể, ngửa trông non Hỗ đứng nghìn thu;
Ít ỏi lòng cá dạ chim, gọi chút nước Hoàng dâng một lễ.


Nguồn: Nam Phong tạp chí, số 125, tháng 1-1928