Nghe vẻ nghe ve,
Nghe vè các rau.
Thứ ở hỗn hào,
Là rau ngành ngạnh.
Trong lòng không chánh,
Vốn thiệt rau lang.
Đất ruộng bò ngang,
Là rau muống biển.
Quan đòi thầy kiện
Bình bát nấu canh.
Ăn hơi tanh tanh,
Là rau dấp cá (diếp cá).
Có cha có mẹ,
Rau má mọc bờ.
Thò tay sợ dơ,
Nó là rau nhớt.
Rau cay như ớt,
Vốn thiệt rau răm.
Sống trước ngàn năm,
Là rau vạn thọ.
Tánh hay sợ nợ,
Vốn thiệt rau co.
Làng hiếp chẳng cho,
Nó là rau húng.
Lên chùa mà cúng,
Vốn thiệt hành hương.
Giục ngựa buông cương,
Là rau mã đề.


Khảo dị:
Nghe vẻ nghe ve,
Nghe vè các rau.
Thứ ở hỗn hào,
Là rau ngành ngạnh.
Trong lòng, không tránh,
Vốn thiệt tâm lang.
Đất rộng bò ngang,
Là rau muốn biển.
Quan đòi thấy kiện,
Bình bát nấu canh.
Ăn hơi tanh tanh,
Là rau diếp (dấp) cá.
Không ba
,
Rau má mọc bờ.
Thò tay sợ dơ,
Nó là rau nhớt.
Ăn cay như ớt,
Vốn thiệt rau răm.
Sống trước ngàn năm,
Là rau vạn thọ.
Tay hay sợ vỡ,
Vốn thiệt rau co.
Làng bắt chẳng cho,
Thiệt là rau húng.
Lên chùa mà cúng,
Vốn thiệt hành hương.
Giục giã buông cương,
Là rau mã đề.
Nguồn: Đặng Anh Tú, Đồng dao Việt Nam, NXB Văn hoá thông tin, 2009