Thương thay, hỡi các chú ơi!
Ăn uống đã rồi thầy kể một văn:
Quý Tỵ giữa ngày mồng năm,
Giờ Dần chính nguyệt ầm ầm huyên hoa.
Một chi đánh ở Đống Đa,
Cầu Duệ kéo đến tốt xa muôn phần.
Khiếp voi bại trận tiên phong,
Cầu nhương sụt cả xuống sông Bồ Đề.
Đao binh tử trận đầy khe,
Dọc đường gài gác nằm kề năn năn.
Chú sang cứu viện nước Nam,
Chẳng may gặp phải suối vàng thương thay!
Chú thì thắt cổ trên cây,
Chú thì tự vẫn ở nay trong nhà.
Chú thì thác xuống Diêm La,
Chú nào còn sống về nhà đại minh.
Ai ai là chẳng đeo tình,
Di Đà tiếp dẫn chúng sinh cô hồn.
Chú nào có vợ có con,
Có cha có mẹ hãy còn giỗ chung.
Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông,
Nam Kinh, Quảng Bắc có lòng sang đây.
Trời làm một trận gió lay,
Sống làm tướng mãnh chết rày thần linh.
Phù hộ tín chủ bình an,
Cửa nhà phú túc vững bền cao xây.
Mạo chiên nón khách móng giầy,
Đuôi sam hảo lớ chú rày cần lo.
Chú thiêng nao đấy phụng thờ,
Kính quan tôn sứ để nhờ hậu lai.
Nhớ xưa chú bác từng bày,
Cung đao tay nỏ, đầu kề nón chiên.
Tay vòng bạc, cổ đeo tiền,
Cờ mao một ngọn xông tên chiến trường.
Điền Châu thái thú đảm đương,
Liều mình tử trận chiến trường nên công.
Trận vây ở trong Nam Đồng,
Rạng ngày mồng sáu cờ rong lai hàng.
Còn ông Tổng đốc ban sang,
Quyết liều một trận chiến trường ba quân.
Muốn cho được chữ ái ân,
Quyền quyền vai gánh trung cần đế vương.
Vua sai bộ sứ tiếp sang,
Quan tài phong kín đón đường kéo ra.
Con con cháu cháu hằng hà,
Mừng lấy được xác Điền Châu đem về.
Tướng tài can đảm cũng ghê,
Làm đền phụng sự tức thì Đống Đa.
Các chú thác xuống Diêm La,
Bắc nam đôi ngả trẻ già cùng thương.
Cơm dày áo nặng nhà vương,
Bõ công gối đất nằm sương bao đành.
Thác ở chiến trận nên danh,
Về thời vua giết chẳng lành được đâu.
Chú thì thác ở đầu cầu,
Chú thì tự vẫn đâm đầu xuống ao.
Ai ai trông thấy thương sao!
Lập đàn chẩn tế mà kêu cô hồn.
Gọi là mảnh áo thoi vàng,
Ít nhiều làm của ăn đường sính thiên.
Khuông phù tín chủ bình an,
Gái trai già trẻ thiên niên thọ trường.


Thiên triều văn (Văn tế quân thiên triều) là một bài văn tế bằng chữ Nôm theo thể lục bát, lưu truyền trong dân gian sau khi Quang Trung đánh tan 20 vạn quân Thanh, có nội dung tế quân sĩ nhà Thanh chết trận, nhưng thực chất là chế giễu thất bại của quân xâm lược. Bài thơ được chép ở sách Cúng văn tạp lục (ký hiệu A.1948, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm).

Nguồn: Nguyễn Thị Lâm, “Một bài văn tế tướng sĩ nhà Thanh tử trận”, Thông báo Hán Nôm học, 2005