Thơ » Việt Nam » Khuyết danh Việt Nam » Thơ dân gian » Ca dao » Ca dao về lịch sử
Thơ » Việt Nam » Khuyết danh Việt Nam » Thơ dân gian » Vè, đồng dao » Vè địa danh, lịch sử, xã hội
Đăng bởi tôn tiền tử vào Hôm nay 01:52
Hai lăm tháng chín ngày rày,
Gió lai rai ba bữa phát ngày phong ba.
Người thời trôi cửa, kẻ lại trôi nhà,
Người trôi con vợ, thôi đà huyên thuyên.
Càng lâu nước lại càng về,
Vịt gà heo chó một bầy đều trôi.
Trong nhà ghế, phản, rương, nồi,
Lu, hoành, trướng, liễn cũng trôi một đoàn.
Một mình khốn thở lỡ than,
Trèo lên khu đĩ tìm đàng mà ra.
Ngó về thiên hạ người ta,
Ai mô như nấy cửa nhà nát tan.
Những là khoai tía khoai lang,
Đậu, mè, dưa, bắp thối tan không còn.
Chuyến này gạo lại hai lon,
Vợ chồng xa lắc, mẹ con không nhìn.
Người giàu thất vận đi xin,
Có người cực khổ tự nhiên mà giàu.
Năm nay đói đã nên lâu,
Trong nhà lu, mái, lưới câu đem cầm.
Người thời bán dĩa, bán mâm,
Đồ trà, khay hộp đi cầm hết trơn.
Chuối buồng mới rục ngoài cơn,
Vác thêu ra xắn hấp cơm lờn chờn.
Ăn rồi chồng khen ngon, vợ cũng khen ngon,
Ăn vô ba bữa cẳng húp tròn vo vo.
Ngày rày ăn được bữa no,
Ngày sau chân trướng bụng to cũng đành.
Lá khoai, lá sắn, đọt đành,
Khiến con đi hái để dành luộc ăn.
Lá bầu, lá mướp, lá trăn,
Rau ngò, rau chiếu cũng ăn không chừa.
Rau mâu, chột bí, lá cừa,
Cũng đều tuốt hết chẳng lưa lá nào.
Những loài trìa hến dưới rào,
Đêm ngày lặn lội tuốt bào sạch trơn.
Những loài vật trái trên cơn,
Non tra sống chín hái trơn không còn.
Ếch, đam, trai, ốc, rạm, còng,
Xách oi đi bắt chẳng con mô chừa.
Đói trong sáu tháng đã bưa,
Tháng tư lúa chín bưa vừa bụng no.
Bình luận nhanh 0
Bạn đang bình luận với tư cách khách viếng thăm. Để có thể theo dõi và quản lý bình luận của mình, hãy đăng ký tài khoản / đăng nhập trước.