Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Kinh thi
Thời kỳ: Chu
2 bài trả lời: 2 bản dịch

Một số bài cùng tác giả

Đăng bởi Vanachi vào 29/09/2005 21:39

北門 1

出自北門,
憂心殷殷。
終窶且貧,
莫知我艱。
已焉哉!
天實為之,
謂之何哉!

 

Bắc môn 1

Xuất tự bắc mân (môn),
Ưu tâm ân ân.
Chung cụ thả bần.
Mạc tri ngã cân (gian).
Dĩ yên ti (tai) ?
Thiên thực vi chi.
Vị chi hà ti (tai) ?

 

Dịch nghĩa

Đi ra từ cửa bắc,
Lòng buồn ảo não.
Rốt cuộc đã nghèo lại khó
Không ai biết nỗi gian nan của ta.
Đã đành vậy thôi!
Trời thật đã làm như thế,
Thì còn nói làm sao nữa đặng ?


Chú giải của Chu Hy:

Chương này thuộc tỷ.

bắc môn: cửa bắc, quay lưng lại dương, hướng mặt về âm, ngược với ánh sáng, hướng về bóng tối.
ân ân: buồn.
cụ: không có gì để cung ứng về nghi lễ.

Người hiền tài nước Vệ ở vào thời loạn, phải thờ hôn quân, vì bất đắc chí cho nên đi ra cửa bắc mà mô tả việc ấy để tự ví với mình, và lại than thở sự nghèo khó mà người ta không biết đến, rồi đổ về cho trời vậy.

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Tạ Quang Phát

Ta từ cửa bắc đi ra,
Lòng buồn ảo não xót xa muôn vàn.
Suốt đời khốn khó bần hàn,
Không ai biết nỗi gian nan ngậm ngùi.
Đã đành như thế vậy thôi.
Thật vì cảnh ấy do trời làm ra
Nói làm sao nữa được mà!

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Ta từ cửa bắc ra đi,
Lòng buồn ảo não thiết gì nữa đâu.
Đã nghèo lại khó bao lâu,
Không ai biết nỗi khổ sầu của ta.
Đã đành như vậy thôi mà!
Thật vì trời đã làm ra thế rồi,
Nói làm chi nữa hỡi ôi?!

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời