上山

六月二十四
上到此山來
舉頭紅日近
對岸一枝梅

 

Thướng sơn

Lục nguyệt nhị thập tứ,
Thướng đáo thử sơn lai.
Cử đầu hồng nhật cận,
Đối ngạn nhất chi mai.

 

Dịch nghĩa

Ngày hai mươi bốn tháng sáu,
Lên đến núi này.
Ngẩng đầu thấy mặt trời đỏ gần lại,
Bờ bên kia có một nhành mai.


Lũng Dẻ, 1942.

Nguồn: Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh, NXB Văn học, Hà Nội, 1990, tr14

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (6 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Tố Hữu

Hai mươi tư tháng sáu,
Lên ngọn núi này chơi.
Ngẩng đầu: mặt trời đỏ,
Bên suối một nhành mai.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
34.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

tho ho chi minh

binh giang bai tho thượng sơn

15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

"Thượng sơn" hay "Thướng sơn"

Thầy mình có dạy.
"Thượng" là danh từ để chỉ vật ở bên trên
"Thướng" là động từ để chỉ đi lên/ di chuyển lên trên.

Như vậy có nên dịch tên bài thơ là "Thướng sơn" chăng?!!

14.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Thướng sơn

Mình cho rằng nên sửa lại phần phiên âm đầu bài là "Thướng sơn".

Trung tình vô hạn bằng thuỳ tố,
Minh nguyệt thanh phong dã bất tri.
15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Thế Nữu

Ngày hăm tư, tháng sáu,
Lên đến ngọn núi này.
Thấy gần mặt trời đỏ,
Bờ trước, một nhành mai!


Nguồn: Nguyễn Thế Nữu, Thưởng thức và chú dịch Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (ngoài Ngục trung nhật ký), NXB Khoa học xã hội, 2005
Trung tình vô hạn bằng thuỳ tố,
Minh nguyệt thanh phong dã bất tri.
15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Dương Đức Anh

Hăm tư tháng sáu là ngày:
Ta lên đến ngọn núi này ung dung
Ngẩng đầu, cận ánh dương hồng
Bên bờ con suối, mai buông một nhành.

15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời