Dưới đây là các bài dịch của Hoàng Lê. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 4 trang (31 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Cố Động Thiên công chúa, vị ngục lại (Lý Thánh Tông): Bản dịch của Hoàng Lê

Ta yêu con ta cũng như những bậc cha mẹ trong thiên hạ yêu con cái họ. Trăm họ không biết gì nên tự phạm vào hình pháp, lòng ta rất xót thương! Cho nên từ nay về sau, không cứ tội nặng hay nhẹ, đều nhất luật khoan giảm.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập I), NXB Khoa học xã hội, 1977
Ảnh đại diện

Ngộ đại hàn, vị tả hữu bách quan (Lý Thánh Tông): Bản dịch của Hoàng Lê

Trẫm ở trong thâm cung, sưởi lò than thú, mặc áo hồ cừu, (thế mà) khí lạnh còn (ghê gớm) đến thế. Huống chi những người bị giam cầm trong ngục, khổ sở về gông cùm, ngay gian chưa định rõ, bụng không đủ cơm no, áo không kín thân thể, một khi gặp cơn gió bấc thổi, há chẳng là vô tội mà chết (oan) ư? Trẫm rất lấy làm thương xót. Vậy hạ lệnh cho hữu ty phát chăn chiếu và mỗi ngày hai bữa cơm phát cho họ.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập I), NXB Khoa học xã hội, 1977
Ảnh đại diện

Gián Lý Cao Tông đại hưng lâu các (Khuyết danh Việt Nam): Bản dịch của Hoàng Lê

Xưa Nguỵ Minh Đế mới xây gác Lăng Tiêu, có chim thước đến làm tổ, Cao Đường Long nói: Kinh thi có câu “Chim thước làm tổ, Chim cưu đến ở”. Nay cung thất vừa làm xong mà chim thước đã đến làm tổ, thần ngu muội nghĩ rằng [rồi sẽ] có họ khác đến đấy ở. Thần kính xin bệ hạ xét lời nói của Cao Đường Long, trước chăm sửa mình, tu đức, sau hãy khởi công xây dựng mới phải.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập I), NXB Khoa học xã hội, 1977
Ảnh đại diện

Lâm chung chúc thái tử (Lý Anh Tông): Bản dịch của Hoàng Lê

Nước ta non sông gấm vóc, nhân tài tuấn kiệt, đất nước anh linh, châu ngọc bảo bối, không cái gì là không có. Nước khác không thể nào bì được. Con hãy nên giữ nước cẩn thận.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập I), NXB Khoa học xã hội, 1977
Ảnh đại diện

Thỉnh hoàn Vật Dương, Vật Ác nhị động biểu (Lý Nhân Tông): Bản dịch của Trần Thị Băng Thanh, Hoàng Lê

Nước tôi có đất Vật Dương, Vật Ác, gồm hai động và tám huyện, vẫn tiếp liền với phần đất tỉnh [Quảng Tây]. [Những đất ấy] trước sau đều bị bọn đầu mục thổ dân làm phản, bỏ đi, đem theo về với Trung Quốc. Đất Vật Dương thì năm Bính Thìn (1076) bị sát nhập vào đất quý tỉnh; đất Vật Ác thì năm Nhâm Tuất (1082) cũng bị sát nhập và đặt thành ải Thông Khang.

Mặc dầu đấy chỉ là mảnh đất nhỏ nhưng vẫn khiến lòng tôi đau xót, luôn luôn nghĩ đến cả trong giấc mộng. Quả thực tổ tiên tôi xưa kia đã phải đánh dẹp phường tiếm nghịch, xông pha gian nguy, không tiếc tính mạng mới có được đất ấy. Nay tôi phận con cháu, đã không kế tục được cơ nghiệp được [cha ông] thì dám đâu dự vào hàng mộ nước phên dậu, cầu lấy cái sống tạm bợ trong chốc lát.

Năm Giáp Tí (1084), Ty kinh lược Quảng Tây đã vì nước tôi mà tâu bày về triều. Tiên triều đã đem đất Túc, Tang gồm hai động và sáu huyện trả lại cho tôi chủ lĩnh. Các đất Túc, Tang ấy hiện thuộc nước tôi rồi, chẳng phải là đất mà tôi bày tỏ ở đây. [Bởi vậy], tôi không dám vâng mệnh.

May gặp khi bệ hạ [lên ngôi], khắp bờ cõi thảy đều đổi mới. Vậy kính cẩn [nêu] đầy đủ trong tờ biểu này để quý quốc nghe biết.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập I), NXB Khoa học xã hội, 1977
Ảnh đại diện

Ngẫu hứng (Ninh Tốn): Bản dịch của Hoàng Lê

Thịnh triều chốn chốn thảy vui tươi
Thoải mái dật tình gửi gắm chơi
Vui vẻ non sông quen biết mới
Ba thu trăng gió rước tình người
Văn thư rảnh rỗi hồn thơ sáng
Cảnh đẹp làm trong tục luỵ đời
Vũ trụ mênh mông nhìn thoả thích
Lâng lâng cánh mọc liệng bên trời


Nguồn: Thơ văn Ninh Tốn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984
Ảnh đại diện

Nhĩ Hà kỳ 1 (Ninh Tốn): Bản dịch của Hoàng Lê

Đứng đầu bao nhánh bao sông
Đất trời muôn dặm một vùng vạch phân
Vững vàng nâng đỡ thuyền quân
Mái chèo khua nước lăn tăn hoa đào
Mưa xong sông chảy ào ào
Nước dâng gió thổi khác nào con thoi
Sự đời dâu biển ngắm soi
Phồn hoa kim cổ coi nơi bến đò

Ảnh đại diện

Nguyên nhật yết Diên Quang tự Nguyệt Đàm thượng nhân (Nguyễn Ức): Bản dịch của Hoàng Lê

Gió xuân đưa tới kỳ Lâm,
Tào Khê đây lối, phải tìm chi xa.
Mấy nơi chiếu giảng mưa hoa,
Một đầm trăng lạnh, in qua lòng thiền.
Đạo chung nam bắc rọi truyền.
Phong, Tao chuẩn mực, khơi niềm thú sâu.
Mười năm mộng tưởng lẽ mầu,
May sao được dịp, nay hầu dâng hương.

Ảnh đại diện

Giang trung dạ cảnh (Phạm Tông Ngộ): Bản dịch của Hoàng Lê

Khói dường tuyết đọng, lạnh trăng đêm,
Góc biển hồng kêu, ai oán thêm.
Dải lụa sông dài, soi ánh nước,
Trăng treo ngàn núi, sáo chài êm.

Ảnh đại diện

Quân trung hữu cảm (Trần Nguyên Đán): Bản dịch của Hoàng Lê, Trần Lê Sáng

Thân mang gươm bút bước phù vân,
Bấm đốt xa nhà trọn chục tuần,
Báo sáng gà xui kinh giấc mộng,
Giục về quyên gọi tiễn tàn xuân.
Công danh chưa muộn chờ ngày khác,
Bèo nước đâu còn gặp cố nhân.
Biển rộng trời cao nhàn tản quá,
Sóng yên sóng lặng bạch âu gần.

Trang trong tổng số 4 trang (31 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ›Trang sau »Trang cuối