4684.21
Thể thơ: Thơ mới bảy chữ
Thời kỳ: Hiện đại
21 bài trả lời: 7 thảo luận, 14 bình luận
96 người thích
Từ khoá: hành quân (10) chiến tranh (237) người lính (160) thơ phổ nhạc (570) thơ sách giáo khoa (452) Văn học 12 [1990-2006] (30) Ngữ văn 12 [2007-2020] (12)

Đăng bởi Vanachi vào 15/03/2005 10:39, đã sửa 2 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 13/03/2006 14:27

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi.
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống,
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Anh bạn dãi dầu không bước nữa,
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét,
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói,
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,
Kìa em xiêm áo tự bao giờ.
Khèn lên man điệu nàng e ấp,
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy,
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ?
Có nhớ dáng người trên độc mộc,
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa?

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,
Quân xanh màu lá dữ oai hùm.
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Rải rác biên cương mồ viễn xứ,
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.
Áo bào thay chiếu, anh về đất,
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Tây Tiến người đi không hẹn ước,
Đường lên thăm thẳm một chia phôi.
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy,
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.


Phù Lưu Chanh, 1948

Quang Dũng tham gia đoàn quân Tây Tiến năm 1947 và hành quân lên Tây Bắc với nhiệm vụ phối hợp với bộ đội nước bạn để bảo vệ vùng biên giới Việt Lào. Ban đầu, bài thơ được đặt tên là Nhớ Tây Tiến. Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát cùng tên.

Bài thơ này được sử dụng trong các chương trình SGK Văn học 12 giai đoạn 1990-2006, SGK Ngữ văn 12 từ 2007.

Nguồn:
1. Quang Dũng, Mây đầu ô, NXB Tác phẩm mới, Hội nhà văn, Hà Nội, 1986
2. Quang Dũng - tác phẩm chọn lọc, NXB Trẻ, 1988

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 3 trang (21 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Phân tích vẻ đẹp lãng mạn và kiêu hùng của người lính trong bài thơ “Tây Tiến”

Tây Tiến trước hết là một bài thơ phong phú từ hình thức đến nội dung, với hai đặc điểm bao trùm là cảm hứng lãng mạn và âm hưởng bi tráng. Những câu đầu bài thơ đà xác định tâm thế:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Tiếng gọi thiết tha về đơn vị cũ vừa cất lên trong tâm tưởng thì dường như trạng thái chơi vơi đã trào dâng choáng ngợp. Được bắt đầu bằng một ngữ cảnh xác định, tất cả những đối tượng của nỗi nhớ đã hội về đầy đủ: Sông Mã (tên địa danh), Tây Tiến (phiên hiệu đơn vị), rừng núi (địa bàn hoạt động)… để từ đó toàn bộ không gian nhớ được mở ra mạnh mẽ và tự nhiên:
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Những kỷ niệm một thời bắt đầu được mở ra, mỗi kỷ niệm gắn liền với mỗi địa danh và tâm trạng cụ thể. Đặc biệt bốn câu thơ:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hứt cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
với bút pháp đặc tả và đối lập mạnh mẽ, đã mở ra một trường liên tưởng đặc biệt về một không gian núi rừng hoang dã, hiểm trở, đó chính là điều kiện sinh hoạt, cuộc sống của người chiến sĩ. Ngay trong một câu thơ, sự đối lập giữa hoàn cảnh khó khăn và tư thế oai hùng làng mạn đã song hành:
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Chữ ngửi ở đây rất tài tình! Đặt trong hoàn cảnh của câu thơ: vừa mới dốc / lên / khúc khuỷu / dốc / thăm thẳm / heo hút cồn mây đã bất ngờ súng ngửi trời. Có gì như hiên ngang thách thức, bất chấp mọi gian nguy! Không gian của câu thơ biến ảo trong biên độ và tiết tấu linh hoạt: dốc, thăm thẳm, heo hút, nghìn thước lên cao, nghìn thước xuống, xa khơi lúc vun vút, lúc khoan thai.

Bốn câu thơ tiếp theo:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đèm đếm Mường Hịch cọp trêu người
đặc tả về hình ảnh núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ, vừa hiểm trở. Mặc dầu vậy, khi hai câu thơ hạ xuống:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
kết thúc với toàn những thanh bằng thì những khó khăn gian khổ, hiểm trở núi rừng dường như lắng lại, lan toả trong nỗi nhớ bây giờ là tình cảm quân dân ấm áp nơi người lính đã dừng chân.

Chính cái “điểm dừng” của bài thơ là điều kiện cho không gian nỗi nhớ được mở ra theo cung bậc mới mẻ về một Tây Bắc trữ tình, gợi cảm và thấm đậm chất thơ:
Doanh trại bừng lèn hội đuốc hoa
Kia em xiêm áo tự bao giờ
Những kỷ niệm gặp gỡ của đoàn quân Tây Tiến với đồng bào Tây Bắc sau những cuộc hành quân vất vả, hiểm nguy hiện về trong nỗi nhớ da diết đến nao lòng. Nếu như ở đoạn thơ trước, Quang Dũng thiên về những hình ảnh gân guốc để diễn tả sự khắc nghiệt của thiên nhiên, địa hình thì ở đoạn này – vẫn là Tây Bắc ấy – được thể hiện qua những nét mềm mại, tinh tế và tài hoa. Một Tây Bắc hiện lên mỹ lệ và giàu cảm xúc với những hội đuốc hoa, xiêm áo, khèn… e ấp, nhạc… hồn thơ, chiều sương, hồn lau, dáng người trên độc mộc, hoa đong đưa… đầy quyến rũ. Nỗi nhớ ở đây mở ra nhiều hướng gắn với nhiều sự kiện, nhưng tất thảy đều bắt nguồn từ cảm xúc mãnh liệt về con người, cảnh vật rất đỗi thân thương.

Miền đất đã đi qua và tình người ở lại. Nhớ Tây Tiến, nhà thơ nhớ về đồng đội đã một thuở gắn bó gian truân. Đến đây, hình ảnh người lính được miêu tả trong bối cảnh tiếp nối không gian của hai đoạn thơ trước:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Trên cái nền hoang sơ và diễm lệ của núi rừng Tây Bắc, hình ảnh người lính Tây Tiến vừa khoẻ khoắn, oai hùng vừa trữ tình thơ mộng, ở họ toát lên nét hào hoa lãng mạn, ngay cả sự hy sinh của họ cũng vậy. Vừa đọc đến câu thơ:
Rải rác biên cương mồ viền xứ
có cảm giác như thấy lạnh người, nhưng đọc tiếp:
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
thì dường như cái cảm giác trên đây bỗng nhiên đã bị đẩy lùi. Và:
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lèn khúc độc hành
câu thơ bỗng lại trở nên gân guốc, xót lắng đau thương. Hình ảnh thơ tả thực, khắc hoạ sự hy sinh đẹp đẽ và bi tráng của những người lính Tây Tiến. Khó khăn gian khổ, tổn thất là có thực – nhưng qua cách thể hiện của Quang Dũng – những khó khăn gian khổ, tổn thất vô cùng ấy thật lẫm liệt hào hùng – đặc biệt ở phong độ, tư thế của người chiến sĩ.

Bốn câu thơ cuối bài như một sự khái quát nỗi nhớ về Tây Tiến. Ở đây, từ về trong “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi” đặt sau những “Nhạc về Viên Chăn” và “anh về đất” tạo nên âm hưởng và không gian cho nỗi nhớ day dứt khôn nguôi.

Bài thơ chuyển động theo một tiết tấu chậm và chắc, dường như mỗi chữ, mỗi hình ảnh đều có sức âm vang. Bút pháp đặc tả kết hợp nhuần nhuyễn với bứt pháp so sánh, đối lập và khơi gợi tạo ra một phong cách vừa chắc khoẻ vừa trữ tình lãng mạn.


(Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền, giáo viên dạy văn tại trường THPT chuyên Hùng Vương - Việt Trì - Phú Thọ)
tửu tận tình do tại
23.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Tây Bắc hùng vĩ thơ mộng trong “Tây Tiến”

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Khổ thơ trên dành cho không gian hùng vĩ, oai linh của Tây Bắc. Con đường dốc mới ấn tượng làm sao. Một câu thơ bảy chữ mà có đến hai chữ dốc. Khúc khuỷu và thăm thẳm. Vừa quanh co, gấp khúc vừa cao thăm thẳm. Cao đến nỗi lên đến đỉnh dốc rồi thì súng có thể chạm vào trời để mà ngửi, để mà xem hơi của da trời có mùi gì. Súng ngửi trời là hình ảnh vừa nhân hoá lại vừa ngoa dụ. Chi để nói cái cao thăm thẳm của dốc. Ngàn thước lên lại ngàn thước xuống càng tạo cho cảm giác con đường dốc ngược. Mà dốc trong mưa lại càng trơn, lên đã khó, xuống càng khó hơn. Thế nhưng thấp thoáng nóc nhà trong mưa Pha Luông làm cho đoạn đường như bớt đi vẻ khắc nghiệt. Mưa xa khơi. Làm gì có biển mà xa khơi. Nhưng biển mây, biển mưa tạo cảm giác ấy, một cảm giác ấm lòng giữa thiên nhiên hùng vĩ mà khắc nghiệt. Cả câu thơ gồm toàn những từ thanh bằng như diễn tả đã hết ngàn thước xuống và đã bắt đầu đến đoạn đường bằng phẳng… mà cũng có thể chi là ảo giác và ao ước của người đang chật vật với cái dốc thăm thẳm.

Kỉ niệm lại gọi về một thời gian không ngắn trên chặng đường hành quân Tây Tiến của đoàn quân Tây Tiến:
Thác gầm thét chiều chiều - Cọp trêu người đêm đêm

Phải hoang dã lắm, vắng người lắm nên cọp mới cả gan đến trêu người. Nhưng vượt qua được chặng dốc, vượt qua được thác ghềnh, qua nơi trú quân tạm thời đến được với dân thi Tây Bắc không chỉ là hùng vĩ, khắc nghiệt, bí ẩn mà Tây Bắc còn ấm áp, thơ mộng. Bát cơm nóng lên khói giữa trời mưa lạnh, và em gái Mai Châu với nắm xôi nếp thơm của mùa gặt mới hay là mùa em đón người lính cụ Hồ là hình ảnh làm cho Tây Bắc ấm mãi trong lòng, đọng mãi trong trí nhớ của người chiến sĩ.


(Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền, giáo viên dạy văn tại trường THPT chuyên Hùng Vương - Việt Trì - Phú Thọ)
tửu tận tình do tại
11.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bình giảng đoạn thơ 7,8 trong bài thơ Tây Tiến

Tây Tiến là bài thơ nổi tiếng của Quang Dũng nói riêng, của thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung, được sáng tác vào năm 1948. Thông qua niềm thương nỗi nhớ, cảm hứng lãng mạn của tác giả, bức tranh thiên nhiên miền Tây Tổ quốc hiện lên thật đa dạng về đường nét, phong phú về mầu sắc, rất gợi cảm và gần gũi với cuộc sống người lính. Nổi bật lên trên bức tranh núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ dữ dội vừa nên thơ ấy vẫn là hình ảnh những người lính Tây Tiến thật oai phong lẫm liệt, thật sang trọng hào hoa:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
áo bào thay chiếu, anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Vẻ đẹp lãng mạng của người lính Tây Tiến được thể hiện rất rõ qua những vần thơ:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dừ oai hùm
Những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, những người lính Tây Tiến phải đương đầu với muôn vàn khó khăn thiếu thốn, thường xuyên phải chống chọi với đói rét, bệnh tật. Những câu thơ trên gợi cho ta biết bao thương cảm. Những người lính bị sốt rét rừng hành hạ được tác giả phác hoạ bằng những nét độc đáo có phần kì lạ. Sống ở vùng rừng núi Tây Bắc hoang vu, họ bị bệnh sốt rét làm cho trụi tóc xanh da, thân hình tiều tuỵ: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc”. Cũng có thể hiểu người lính phải cạo trọc đầu để thuận tiện hơn trong chiến đấu. Nhưng người ta thường hiểu theo cách thứ nhất. Đây là một hình ảnh hoàn toàn có cơ sở hiện thực. Chính Hữu trong bài Đồng chí cũng đã viết “Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi” và Tố Hữu trong bài Cá nước đã có những câu thơ rất hay:
Giọt giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ
Anh vệ quốc quân ơi
Sao mà yêu anh thế!
Nhưng cách diễn đạt của Quang Dũng đã làm bật nổi được nỗi gian khổ của người lính và gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc. Biết bao nhiêu là khốc liệt được chứa đựng trong hình ảnh “không mọc tóc” và “quân xanh màu lá” ấy. Chỉ riêng sự tồn tại được trong hoàn cảnh dáng vóc ấy cũng đã là một chiến công phi thường rồi!.

Tuy nhiên, người lính ốm mà không yếu, vẫn giữ được nguyên vẹn vẻ hào hùng của họ: “dữ oai hùm, mắt trừng”. Với bút pháp lãng mạn, tác giả đã nhấn mạnh sự tương phản giữa ngoại hình và nội tâm, giữa hình thức có phần xanh xao tiều tuỵ vì bệnh tật với sức mạnh tinh thần mãnh liệt bên trong. Biết bao sự phẫn nộ và tư thế khí phách của người lính được chứa đựng trong hai từ “mắt trừng” rất giản dị đó. Và cũng oai phong lẫm liệt biết chừng nào được thể hiện trong hình ảnh “dữ oai hùm” ấy – oai hùm là oai hổ, chúa sơn lâm thường ngự trị, tung hoành ngang dọc nơi chốn rừng thiêng:
Trong hang tối mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi
Ta biết ta là chúa tể cả muôn loài
Giữa chốn thảo hoa không tên không tuổi
(Thế Lữ)
Cho nên có thể nói “dữ oai hùm” của người lính Tây Tiến được tác giả mô tả ở đây là nhằm để thích ứng với sự chế ngự một hoàn cảnh khắc nghiệt dữ dội và làm cho quân thù khiếp sợ. Như thế là người lính Tây Tiến ngay trong khó khăn, thiếu thốn, bệnh tật, ốm đau cũng đã bộc lộ phẩm chất lẫm liệt hào hùng và rất đẹp.

Nhưng có lẽ người lính còn đẹp ở một phương diện khác của phẩm chất tinh thần. Đằng sau cái vẻ “dữ oai hùm” còn ẩn giấu những tâm hồn, những trái tim giàu khát khao yêu thương, giàu lãng mạn, mộng mơ: “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Ban ngày họ phải hành quân gian khổ, thường xuyên tiếp xúc với thần chết mà đêm về họ đã mơ những giấc mơ dịu êm như thế đó. Hình ảnh “dáng kiều thơm” làm ta gợi nhớ tới những hình ảnh thơ tả người đẹp rất độc đáo và nổi tiếng của Bích Khê:
Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?
Đến triển lãm cả thân hình kiều diễm
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?
Mắt ngời châu rung ánh sáng nghệ thường
Lệ tịch lại sắp tuôn hàng đũa ngọc
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
Vài chút trăng say đọng ở làn môi
(Tranh loã thể)
Chính những giấc mơ thấm đượm màu sắc lãng mạn hào hoa đó đã nâng đỡ tinh thần của người lính Tây Tiến vượt qua những khó khăn thử thách khốc liệt tương chừng như không thể chịu đựng nổi. Đây là vẻ đẹp rất đáng yêu, đáng tự hào của người lính Tây Tiến nói riêng và anh bộ đội Cụ Hồ nói chung. Nguyễn Đình Thi cũng đã từng viết:
Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội
Mỗi bước đường mỗi bước hy sinh
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu
Vì thế không nên có cái nhìn sai lầm cho người lính Tây Tiến còn những “mộng rớt, mộng rơi” mà phải xem đó là "mộng mơ” đầy cảm hứng lãng mạn của những người lính Hà Thành tài hoa thanh lịch.

Ngòi bút Quang Dũng không chỉ hướng về lãng mạn hào hoa mà còn hướng về phía, lãng mạn hào hùng, cảm xúc bi tráng. Người lính Tây Tiến đã ra đi chiến đấu với tư thế, khí phách tuyệt đẹp:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Hình ảnh thơ đã trực tiếp nói đến những hy sinh mất mát. Thơ ca kháng chiến nhìn chung ít nói đến mất mát hy sinh. Vì vậy đây là một đoạn thơ khá hiếm hoi. Quang Dũng trực diện nói đến cả cái chết, không phải một cái chết mà là nhiều cái chết: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”. Riêng câu thơ này gợi cho ta cảm giác có cái gì đó hơi bi thảm. Chẳng phải chi vì lời thơ nói đến nấm mồ mà vì những nấm mồ nằm rải rác nơi miền viễn xứ ở một vùng rừng núi hoang vu heo hút. Nó dễ làm ta nhớ đến những câu thơ tả cảnh chiến địa trong Chinh phụ ngâm qua bản dịch của Đoàn Thị Điểm:
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn
Nhưng sang câu thứ hai “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” đã nâng ý thơ lên thành bi tráng, bi hùng. Chất bi hùng ấy được vút lên từ âm điệu câu thơ gọi lên một thái độ tình cảm thật dứt khoát, thật mạnh mẽ.

Vì lí tưởng độc lập tư do cao quý, người chiến sĩ Tây Tiến sẵn sàng hy sinh một cách thanh thản không hề luyến tiếc “đời xanh”, biết bao tương lai đầy hứa hẹn của tuổi trẻ được chứa đựng trong hai chữ “đời xanh” ấy. Tố Hữu cũng đã có những câu thơ nổi tiếng ca ngợi vẻ đẹp của tuổi trẻ:
Hai mươi tuổi tim đang dào dạt máu
Hai mươi tuổi, hồn quay trong gió bão
Gân đang săn và thớ thịt căng da
Đời mặn nồng hứa hẹn biết bao hoa
Hai câu thơ trên của Quang Dũng đã làm toả sáng một phương châm, một triết lí, lẽ sống rất đẹp của tuổi trẻ thời ấy “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Với triết lí đó, người lính sẵn sàng chịu đựng mọi hy sinh, mọi thiệt thòi, kể cả cái chết “áo bào thay chiếu anh về đất”. Câu thơ trước hết gợi được cái không khí rất thực của người lính Tây Tiến. Hoàng Lộc cùng đã viết về việc khâm liệm người chiến sĩ:
Ở đây không gỗ ván
Vài anh trong tấm chăn
Của đồng bào Cửa Ngăn
Tặng tối ngày phân tán
Nhưng dẫu sao người lính trong bài thơ của Hoàng Lộc cũng còn có một tấm chăn còn người lính của Quang Dũng phải “áo bào thay chiếu”, nghĩa là “Tử sĩ nhìn xuống không đủ manh chiếu để liệm”. Song để xoá đi cái bi thương, tạo nên niềm an ủi, trân trọng đối với người lính, Quang Dũng phủ lên thi thể người lính một cái nhìn lãng mạn bằng hình ảnh "áo bào”. Đây là một sáng tạo từ ngữ độc đáo của Quang Dũng. Nó vừa miêu tả chiếc áo người chiến sĩ chiến đấu, khi chết thay chiếu để chôn vừa gợi về chiếc chiến bào vua ban cho người tráng sĩ ngày xưa làm cho người lính Tây Tiến trở nên sang trọng hơn:
Giã nhà đeo bức chiến bào
Thét roi Cầu Vị ào ào gió thu
Với tấm “áo bào” ấy, người chiến sĩ đã thanh thản “về” trong lòng đất mẹ thiêng liêng ấm áp vĩnh hằng.

Hình ảnh người chiến sĩ trong câu thơ này làm ta nhớ tới hình ảnh An Dương Vương rẽ nước về với Long Vương hay chàng trai làng Gióng cưỡi ngựa bay về với Thiên Vương sau khi đã dẹp xong giặc Ân. Đúng là một hình ảnh thơ đầy sức mạnh ngợi ca. Biết bao yêu thương và trân trọng của đất nước, của đồng đội được chứa đựng trong hình ảnh thơ ấy.

Người lính Tây Tiến qua cảm hứng lãng mạn của Quang Dũng đã mang được cái tư thế hiện ngang như người tráng sĩ thời Chiến quốc hay người chinh phu trong Chinh phụ ngâm... ra đi quyết không trở về, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng:
Gió hiu hiu hề, nước sông Dịch lạnh tê
Tráng sĩ ra đi quyết không trở về
Người lính của Quang Dũng cũng đã kế tục và phát huy được phẩm chất và vẻ đẹp lí tưởng của người chiến sĩ cộng sản trong văn học cách mạng 1930 – 1945. Vì lí tưởng cộng sản cao đẹp, người chiến sĩ sẵn sàng chấp nhận mọi cái chết, thậm chí là cái chết bi thương:
Dù phải chết, chết một thời trai trẻ
Liệm thân tàn bằng một mảnh chiếu con
Rồi chôn xương rục thối dưới chân cồn
Hay phơi xác cho một đàn quạ rỉa
(Tố Hữu)
Và họ đã thanh thản đi vào cái chết như người nông dân vui vẻ trở về nhà sau khi đã cày xong thửa ruộng:
Vui về chết như cày xong thửa mộng
Lòng khoẻ nhẹ anh dân quê sung sướng
Ngả mình trên liếp cỏ ngủ ngon lành
Và trong mơ thơm ngát lứa đồng xanh
Xuân nhẹ đến trên môi cười hy vọng
(Tố Hữu)
Người lính của Quang Dũng là biểu tượng của người chiến sĩ đi tiên phong trong sự nghiệp giải phóng đất nước: "Là con người đẹp nhất của thời ta:
Đoàn vệ Quốc Quân một lần ra đi
Là có sá chi đâu ngày trở về
Ôi ta biết cám ơn ai đã sáng tạo ra lên người chiến sĩ
Vang tự hào của thể kỉ 20
Thước vàng đo mọi giá trị trên đời
Người lính Tây Tiến chiến đấu cho một lí tưởng đẹp nhất của cuộc đời. Đó là độc lập của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân. Cho nên, anh dù có phải nếm trải mọi khó khăn thiếu thốn, thậm chí cả cái chết nhưng các anh không hề nhỏ bé bi thương, trái lại vẫn oai hùng dữ dội. Các anh dù ngã xuống cũng ngã xuống trong tiếng nhạc của núi sông “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Câu thơ như tiếng kèn bi tráng tiễn đưa linh hồn người lính về nơi đất mẹ vĩnh hằng với bao tiếc thương, ngậm ngùi, bi phẫn. (Liên hệ nhũng câu thơ viết về sự hy sinh của những người vì nước, vì dân):
Thơm rất xa theo gió thoảng hương trầm
Cây trầm đẹp như cuộc đời chiến sĩ
Sống tươi tốt bao niềm tin bình dị
Thân hy sinh thơm đất thơm trời
(Nấm mộ và cây trầm – Nguyễn Đức Mậu)
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đà hoá núi sông ta
(Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm)
Chỉ bằng tám câu thơ mà Quang Dũng đã mô tả được khá đầy đủ về chân dung tập thể người lính Tây Tiến từ diện mạo đến tâm hồn, khí phách thái độ trước cái chết cũng như vẻ hào hoa rất Hà Nội của họ. Đoạn thơ xứng đáng là một tượng đài bằng ngôn ngữ đã bất tử hoá phẩm chất anh hùng của anh bộ đội Cụ Hồ trong cuộc kháng chiến chống Pháp rất đỗi gian khổ mà vui tươi hào hùng.


(Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền, giáo viên dạy văn tại trường THPT chuyên Hùng Vương - Việt Trì - Phú Thọ)
tửu tận tình do tại
33.33
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bình giảng khổ thơ 5, 6 trong bài thơ Tây Tiến

Tây Tiến là bài thơ hay nổi tiếng của Quang Dũng nói riêng, của thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung, là tác phẩm tiêu biểu viết về đề tài người lính. Bài thơ được viết năm 1948, khi tác giả đã xa đơn vị cũ Tây Tiến một thời gian nhưng kỷ niêm về đoàn quân Tây Tiến vẫn khắc sâu trong tâm khảm nhà thơ. Quang Dũng vốn là lính của đơn vị Tây Tiến, một đơn vị có nhiệm vụ phối hơp với bộ đội Lào để giải phóng và bảo vệ miền biên cương phía Tây Tổ quốc. Sau đó Quang Dũng chuyển đơn vị công tác, một lần ngồi ở làng Phù Lưu Chanh (một địa danh cũ thuộc tỉnh Hà Đông) nhớ lại đoàn quân Tây Tiến tác giả cảm xúc viết lên bài thơ tuyệt bút này. Bài Tây Tiến có hai nét đặc sắc trong cảm hứng và bút pháp nghệ thuật đó là vẻ đẹp lãng mạng và tinh thần bi tráng được thể hiện qua thiên nhiên Tây Bắc và hình tượng người lính. Tây Tiến được chia làm ba phần chính. Phần cuối nhằm khắc hoạ chân dung người lính. Phần giữa viết về những kỉ niệm tình quân dân đầy thi vị và vẻ đẹp thơ mộng của sông nước Tây Bắc bằng những nét vẽ tinh tế mềm mại:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Ngay ở câu thơ đầu tiên của đoạn thơ từ “bừng” đã gợi cho ta cảm giác đột ngột. Đó là sự “bừng” sáng của hội đuốc hoa, của lửa trại hay sự tưng bừng rộn rã của tiếng khèn, tiếng hát? “Đuốc hoa” vốn là một từ để chỉ cây nến đốt lên trong phòng cưới đêm tân hôn “Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng Mai xưa”. Hình ảnh này xuất hiện trong đêm vui liên hoan cưa người lính đã tạo nên một màu sắc vừa cổ kính vừa hiện đại, vừa thiêng liêng vừa ấm áp tình keo sơn quân dân gắn bó.

Hơn đâu hết, đoạn thơ này cũng đã bộc lộ nét tài hoa của ngòi bút Quang Dũng. Hồn thơ lãng mạn của ông bị hấp dẫn trước những vẻ đẹp mang màu sắc bí ẩn của con người và cảnh vật nơi xứ lạ. Vì thế, cảnh là cảnh trong hoài niệm vậy mà lời thơ lại cho ta cảm giác đó là cảnh đang diễn ra ngay trước mắt. Và nhà thơ như đang nói với người vũ nữ “Kìa em xiêm áo tự bao giờ!” – một giọng thơ thật trìu mến, thích thú, vui sướng, vui sướng đến ngạc nhiên ngỡ ngàng trước vẻ đẹp vừa e thẹn, vừa tình tứ (nàng e ấp) với bộ xiêm y lộng lẫy trong một vũ điệu mang đậm màu sắc xứ lạ (man điệu). Như vậy chỉ bằng 4 câu thơ mà Quang Dũng đã dựng được một bức tranh vừa phong phú về màu sắc đường nét, vừa đa dạng về âm thanh.

Nếu khung cảnh đêm liên hoan văn nghệ trong những câu thơ trên đem đến cho người đọc không khí mê say ngây ngất thì cảnh sông nước Tây Bắc lại gợi lên được cảm giác mênh mang, hoang dại, tĩnh lặng và mờ ảo thật chứa chan thi vị. Ở đây một lần nữa càng khẳng định rõ hơn nét tài hoa, lãng mạn, giầu mộng mơ của người lính. Thiên nhiên ở nơi chốn chỉ có “Núi sương giăng, đèo mây phủ” khi cảnh chiều về vốn đã mờ ảo lại càng mờ ảo thêm khi có lớp sương mờ bảng lảng choàng thêm một tấm áo như thực như mơ. Qua hoài niệm, khung cảnh Tây Bắc như hiện về trong kí ức của tác giả làm cho giọng thơ của tác giả cất lên như lời tự hỏi “có nhớ? có thấy?” day dứt càng gợi cảm giác bâng khuâng xa vắng, đầy lưu luyến. Con người tài hoa và lãng mạn ấy thấy bạt ngàn hồn lau trong gió trong cây như xôn xao một nỗi niềm:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn Lau nẻo bến bờ
Câu thơ của Quang Dũng làm ta nhớ tới mấy câu thơ của thi sĩ Chế Lan Viên:
Ai đi biên giới cho lòng ta theo với
Thăm ngàn lau chi trắng có một mình
Bạt ngàn trắng ở tận cùng bờ cõi
Suốt một đời cùng với gió giao tranh
(Lau biên giới)
Hay những câu thơ viết về hồn lau trong gió gợi cảm giác về cảnh buồn vắng lặng tờ như thời tiền sử huyền thoại của thi sĩ kiêm hoạ sĩ Hoàng Hữu:
Trường vắng mưa mờ buông dốc xa
Dây leo nửa mái sắc rêu nhoà
Người xa pha phất hồn lau gió
Thổi trắng chân đồi như khói pha
(Hoa lau trường cũ)
Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi đã có một nhận xét rất hay “Bài thơ phảng phất một nỗi buồn cao thượng như trong Đường thi”.

Trong khung cảnh sông nước, chiều sương mang đậm màu sắc cổ kính huyền thoại ấy hiện lên hình ảnh con thuyền độc mộc với cái dáng mềm mại của cô gái và bông hoa trôi theo dòng nước lũ:
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Đúng là “Thi trung hữu hoạ”. Ngòi bút tinh tế của Quang Dũng chỉ phác hoạ một vài nét mà không chi gợi được cái “hồn” của ngàn lau mà còn cả cái dáng rất tạo hình của cô gái lái đò người Mèo, người Thái, cái dáng ngả nghiêng rất tình tứ “đong đưa” chứ không phải “đung đưa” của những bông hoa rừng như muốn làm duyên bên dòng nước lũ. Hai từ “thấy" và “nhớ" được tác giả dùng trong hai câu thơ trên cùng khá tinh tế. Dường như cái hồn thiêng của bông hoa lau đã in hình rõ nét trong mắt tác giả còn cái dáng mềm mại thon thả của cô lái đò cùng bông hoa rừng đong đưa lại khắc sâu vào tâm trí nhà thơ vốn giàu tình yêu cảnh đẹp non sông đất nước này. Không có một tâm hồn nhạy cảm tài hoa thì không thể bắt rất nhạy những hình ảnh giàu hình sắc của hoa như thế.

Đọc đoạn thơ trên, ta có cảm giác đoạn thơ không chỉ được khắc, được phổ vào câu thơ những nốt nhạc tinh tế. Nhưng đây là nhạc điệu được cất lên từ một tâm hồn say đắm với cảnh và người miền Tây Tổ quốc của người lính Tây Tiến. Cho nên rất có lí khi Xuân Diệu nhận xét “Đọc bài thơ Tây Tiến ta có cảm giác như ngậm âm nhạc trong miệng”.

Bốn câu thơ như một bức tranh thuỷ mặc với những nét vẽ chấm phá, tinh tế, mềm mại, tài hoa đã truyền được cái hồn của cảnh vật.

Với bút pháp tài hoa đoạn thơ trên tác giả dà cho người đọc thấy cảnh đêm liên hoan văn nghệ, cảnh sông nước Tây Bắc mang vẻ đẹp hiện thực lãng mạng mà huyền ảo với những vần thơ vừa giàu chất nhạc vừa giàu chất hoạ. Đó cùng chính là sự kết hợp hài hoà tuyệt diệu giữa ba yếu tố: thơ, nhạc, hoạ trong thi phẩm của Quang Dũng.


(Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền, giáo viên dạy văn tại trường THPT chuyên Hùng Vương - Việt Trì - Phú Thọ)
tửu tận tình do tại
11.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Cảm nhận về khổ thớ thứ 6 trong bài thơ “Tây Tiến”

Đoạn thơ mở đầu bằng hình ảnh “Người đi Mộc Châu” trong “chiều sương ấy”. Giữa một không gian mờ mờ, ảo ảo, hư hư, thực thực, tác giả đã đẩy người đọc về một điểm thời gian xa xôi vô định ở đâu đó trong nỗi nhớ của mình. “Người đi Châu Mộc” ở đây có thể hiểu như là đối tượng trữ tình để Quang Dũng hướng nỗi nhớ, tình cảm và ý thơ của mình đến. Tứ thơ của hai câu thơ thứ hai và thứ ba gợi nên cho ngươi đọc biết bao rung động, suy tư. Chính cái cấu trúc “có thấy…có nhớ…” đã làm cho câu thơ, giọng thơ mang nhịp da diết, khắc khoải, in sâu thêm vào tiềm thức con người. Dường như cái hồn” và cái “bóng” trong không gian ấy đều mờ nhạt, tạo nên cảm thức hoang sơ, cò quạnh. Đối với Quang Dũng, khi viết bài thơ này, cảm hứng chủ đạo là nỗi niềm nhớ thương về đồng đội, cho nên động tới bất kỳ câu thơ nào ta cùng thấy trào dâng nên xúc cảm. Mọi hình ảnh qua cảm quan của người đọc đều ở trong trạng thái mơ hồ, ám ảnh. Và chìm trong những hình ảnh tĩnh ấy, ta thấy nổi lên một hình ảnh “hoa đong đưa” thật đẹp và gợi hình. Câu thơ thứ tư đọc lên nghe giống như trong một thước phim vậy. Đất trời lặng lẽ theo con nước là bông hoa vô thường đơn chiếc.

Cả đoạn thơ nhuốm một vẻ buồn của tâm trạng, nếu như ở những khổ thơ trên trong bài Tây Tiến người ta thấy một giọng thơ lãng mạn trẻ trung và tươi tắn của anh lính trẻ Tây Tiến thì đến đây, tâm trạng như có phần trùng xuống. Phải chăng giữa mênh mang nỗi nhớ niềm yêu, giữa những hồi ức đẹp đẽ gian khổ mà hào hùng, anh dũng mà tài hoa, lòng Quang Dũng bỗng dưng cảm thấy cô đơn, buồn bã khi chợt hiểu ra rằng tất cả đều đã chìm sâu trong quá khứ.

Phải nói đây thực sự là một đoạn thơ rất hay và đặc sắc trong cả một bài thơ Tây Tiến. Bời lẽ, khi người ta đọc nó, người ta buộc phải hướng toàn bộ xúc cảm và tư tưởng về nó để cảm thụ được và hiểu được. Hơn thế nữa, tứ thơ gợi nhiều suy tưởng miên man. Nào là “hồn lau”, nào là “hoa đong đưa”, và đặc biệt là “chiều sương ấy”, hình ảnh nào cũng mang màu sắc vô thực, ám ảnh để rồi từ ấy, nó cứ len lỏi, len lỏi sâu thêm vào trong tâm trí cũng như là trong nỗi nhớ của Quang Dũng.

Nếu như coi Tây Tiến là một bản hoà âm thì có lẽ bốn câu thơ này sẽ là một nốt trầm xao xuyến để sau đây lại tiếp tục cất vút cao lên những khúc ca bi tráng của những người lính Tây Tiến anh hùng.

Lời thơ đẹp và tứ thơ lại giàu hình ảnh, chính điều này đã làm nên vẻ đẹp cho toàn đoạn thơ. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng “hồn lau nẻo bến bờ” hình ảnh này không chỉ mang nét cô đơn, mà còn gợi nên sự hoang dại của cảnh vật. Và “hoa đong đưa” dường như mang một cái gì đó tương phân với “dòng nước lũ”. Bởi lẽ, “hoa đong đưa” chỉ thường xuất hiện bên dòng sông phẳng lặng hay đại loại như thế. Phải chăng đây cũng chính là một dụng ý nghệ thuật độc đáo của tác giả? Điều này có lẽ cũng chẳng ai biết chắc được, chi biết rằng, Quang Dũng đã thành công trong việc diễn tả được cảm xúc và nỗi nhớ bâng khuâng của mình gián tiếp từ những hình ảnh và tứ thơ mới, độc đáo.


(Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền, giáo viên dạy văn tại trường THPT chuyên Hùng Vương - Việt Trì - Phú Thọ)
tửu tận tình do tại
11.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bình giảng khổ thơ 6 trong bài thơ Tây tiến

Khi nhắc đến Quang Dũng, người đọc không thể không nhắc đến Tây Tiến – một bài thơ xuất sắc của ông. Bài thơ là nỗi nhớ, niềm yêu của Quang Dũng về một thời chiếu đấu khổ hào hùng dữ dội mà mê say. Những câu thơ vang lên như chính nỗi lòng ngươi nghệ sĩ ngân lên bản nhạc ca ngợi những người lính Tây Tiến – những con người xả thân mình vì Tổ quốc. Xuyên suốt bài thơ là nhớ, là thương:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Đoạn trích nằm ở giữa bài thơ như những nốt nhạc trầm trong bản nhạc hùng ca. Bao nhiêu náo nức, bao nhiêu giục giã mê say ở những câu thơ trên giờ đây đã nhuốm một chút bâng khuâng pha chút ngậm ngùi. Nhà thơ bắt đầu gợi lên những hình ảnh quen thuộc. Những hình ảnh tưởng chừng như đã hằn sâu vào tâm trí của tác giả. Hoài niệm ấy bắt đầu từ một không gian thoáng nỗi buồn mênh mang. Một không gian khiến cho con người ta quên đi hiện tại khắc nghiệt của chiến tranh, quên đi cái ác liệt của bom đạn để trở về với hình ảnh của dáng người. Chữ “ấy” như càng đẩy không gian của chiều sương trở nên xa xăm, vời vợi. Câu thơ gọi nhiều hơn tả với những hình ảnh mờ mờ, ảo ảo, có người nhưng đó chỉ là dáng người ẩn hiện sau lớp sương chiều. Cảnh vật được nhìn qua láng kính nhớ thương, tạo ra nét quyến rũ rất riêng. Không gian vì thế mà trở nên hoang sơ đượm một nỗi buồn. Nỗi buồn ấy dường như cộng hưởng cùng nỗi buồn của lòng người. Cấu trúc “có nhớ”, “có thấy”, không chỉ là để hỏi mà như là lời gợi nhắc, nhắn nhủ tha thiết ân tình. Nỗi nhớ dường như đã khiến cho cảnh vật xa mà hoá gần gũi thiết tha. Khẳng định về không gian, thời gian dường như đã không thể ngăn cản nổi nỗi lòng con người trở về với quen thuộc thân thương. Chính nơi ấy, đoàn binh Tây Tiến đã chiến đấu, nhiều người lính Tây Tiến đã nằm xuống như một nơi để nghĩ ngợi, để quên đi mệt nhọc. Bao khó khăn gian khổ dường như đã trôi theo dòng nước.

Quang Dũng đã thật tài tình khi sử dụng hình ảnh đối lập: “Nước lũ” với “hoa đong đưa” để miêu tả cái mạnh mẽ dữ dội của hiện thực, làm tôn nổi nỗi lòng của con người. Phải chăng hình ảnh hoa đong đưa kia không còn là hình ảnh của hiện thực mà là hình ảnh diễn tả tâm trạng nỗi niềm của tác giả. Chữ “đong đưa” được dùng rất khéo. Đó phải chăng là một chút xao xuyến, nhẹ nhàng, một chút lay động thật khẽ, của cánh hoa nhưng lại có sức lan toả không ngừng. Và một chút xao động đó hay chính là một chút dao động trong tâm hồn của tác giả. Những câu thơ tràn đầy hoài niệm, đầy mê say và tràn đầy sắc thái lãng mạn.

Những câu thơ, những dòng tâm trạng của tác giả khi nhớ về một Tây Tiến anh hùng trong chiến trận nhưng cũng rất giản dị, dí dỏm trong cuộc sống đời thường. Với một nỗi buồn man mác, những câu thơ của Quang Dũng đã để lại trong lòng người đọc bao vang vọng về một thời xa xăm đầy anh dũng, oai hùng, về những con người mang trong mình ý chí kiên cường “ra đi đầu không ngoảnh lại”. Những con người ấy đã làm nên một đất nước anh hùng.


Nguyễn Minh

(Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền, giáo viên dạy văn tại trường THPT chuyên Hùng Vương - Việt Trì - Phú Thọ)
tửu tận tình do tại
11.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Phân tích hình tượng người lính trong bài thơ “Tây Tiến”

Vào một đêm cuối năm 1948, tại Phù Lưu Chanh, cái làng nhỏ nằm ven bờ con sông Đáy, Quang Dũng bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm còn tươi nguyên. Năm ấy Quang Dũng là đội trưởng đoàn quân Tây Tiến làm nhiệm vụ phối hợp với bộ đội lào bảo vệ biên giới Việt – Lào, đánh địch trên tuyến đường rừng núi Tây Bắc từ Lai Châu đến bắc Thanh Hoá. Những người lính của trung đoàn Tây Tiến sống vô cùng thiếu thốn khổ cực, vì rừng thiêng nước độc, sốt rét hoành hành, thuốc men ít ỏi, vì dưới hành quân là trập trùng núi rừng hoang vu, hiểm trở.

Những người lính Tây Tiến hầu hết là thanh niên Hà Nội, phần đông là học sinh, tiểu tư sản trí thức, tuy chiến đấu trong hoàn cảnh gian khổ vẫn phơi phới tinh thần lãng mạn anh hùng. Quang Dùng viết bài thơ Tây Tiến năm 1918 (trước đây lấy tên là Nhớ Tây Tiến) để thể hiện nỗi nhớ và niềm yêu về một thời chiến đấu gian khổ mà hào hùng, dữ dội mà mê say.

Để khắc hoạ chân dung người lính, Quang Dũng đã sử dụng những chi tiết, hình ảnh thực của đoàn quân Tây Tiến nhưng những hình ảnh đó lại được diễn tả bằng bút pháp lãng mạn để tô đậm cái phi thường tài hoa, đem đến cho người đọc một vẻ đẹp độc đáo hiếm có của người lính trong một thời kì lịch sử. Bài thơ được viết theo mạch cảm xúc nhớ thương nên nó mở đầu bằng câu thơ biểu hiện nỗi nhớ ấy.

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Hình ảnh sông Mã anh hùng mở đầu bài thơ như hé mở cho người đọc những câu chuyện oai hùng của binh đoàn Tây Tiến. Trên bước đường ra trận, những người lính Tây Tiến có sông Mã đi cùng bởi vậy cũng thật tự nhiên mà ngay từ đầu bài thơ Quang Dũng gọi tên “sông Mã”. Câu thơ giống như một tiếng gọi tha thiết ám ảnh, khoảng cách địa lý thì xa xôi vời vợi mà nỗi nhớ lại luôn thường trực. Trong lòng câu thơ thứ hai dùng hai chữ “nhớ”, lại được ngắt nhịp 4/3 đã diễn tả tinh tế những thổn thức, mong mỏi, khao khát nhung nhớ của tác giả. Cái đặc sắc chính là ở ba chữ “nhớ chơi vơi”, chữ “chơi vơi” làm cho người đọc có cảm nhận như lan toả vào không gian và thấm sâu vào lòng người, một chút chống chếnh, một chút hụt hẫng, một chút nao lòng. Nỗi nhớ Tây Tiến tưởng như xa mà lại hoá gần, tưởng dịu nhẹ mơn man và lại có sức ám ảnh khôn xiết. Không những thế, người đọc còn như nghe được trong những chữ “nhớ chơi vơi” ấy âm hưởng của núi rừng, của sông suối Tây Tiến. Câu thơ reo vần “ơi” tạo ra được độ dịu nhẹ lâng lâng trong cảm xúc, ở đây cảm xúc nhớ thương giống như một sợi tơ tình bện chặt lòng người. Ngay sau đó nhà thơ đã cụ thể hoá nỗi nhớ của mình.
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Các địa danh Sài Khao, Mường Lát trong nỗi nhớ của Quang Dũng trở nên thân gần kì lạ, viết về hình ảnh đoàn quân mỏi, Quang Dũng lại điểm thềm vào đó hình ảnh “sương lấp”, “hoa về”, “đêm hơi”. Rõ ràng là ở đây chất hiện thực đã đi liền với chất lãng mạn tạo nên nét vẽ độc đáo về Tây Tiến.

Trong cảm xúc nhớ thương của nhà thơ, bức tranh Tây Tiến như được khoác sắc màu huyền ảo, thơ mộng, giàu sắc thái lãng mạn khung cảnh rừng núi mà đoàn quân Tây Tiến bước chân qua vừa thơ mộng vừa hùng vĩ. Trong nỗi nhớ, những kỷ niệm còn tươi nguyên như sống dậy, nhà thơ nhớ đến hình ảnh một thời gian khổ:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Hai câu thơ mang giá trị tạo hình cao diễn tả một cách cụ thể và sinh động nhất những gian khổ của người lính Tây Tiến trên đường ra trận. Câu thơ thứ nhất ngắt nhịp 4/3 và chủ yếu được gieo thanh trắc đã gợi cho người đọc cảm nhận về một sự trúc trắc gập ghềnh đầy hiểm nguy. Nhưng cái hay của câu thơ chính ở hai từ láy “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, nó gợi cho người đọc những cảm nhận về một không gian được mở ra nhiều chiều; cao, rộng, sâu, xa, người đọc như sẻ chia được cùng với người lính những vất vả, gian khó. Câu thơ thứ hai chữ “heo hút” được dùng rất đặc sắc, nó khác với hun hút, nếu “hun hút” gợi được độ sâu thì heo hút không giới hạn, từ heo hút không chi gợi ra độ sâu mà còn thêm cả cảm giác hoang vắng, lạnh lẽo, hiu quạnh. Địa hình chiến đấu của người lính Tây Tiến quả thực đầy gian khó và nguy hiểm. Hơn thế nữa ba chữ “súng ngửi trời” được sử dụng thật độc đáo, nó cũng giống như hình ảnh “đầu súng trăng treo” của Chính Hữu bao trùm lên hình ảnh là một không gian tưởng tượng lãng mạn, nhưng nó được bắt nguồn từ cuộc sống hiện thực, từ con mắt tinh tế và ngòi bứt đa tài của nhà thơ. Nhờ hình ảnh “súng ngửi trời”, câu thơ nói về những gian khổ vất vả nhưng lại làm ngời lên khí phách ngạo nghễ và tư thế hiên ngang của con người, ngoài ra nó còn thể hiện một chút dí dỏm tinh nghịch, một phong cách lính trẻ trung và lãng mạn. Giữa thiên nhiên hoang sơ vắng lạnh, hình ảnh con người không cảm thấy bé nhỏ cô đơn mà lại khẳng định tư thế làm chủ, khẳng định bản lĩnh của một chiến sĩ anh hùng và tinh thần lạc quan của con người. Không những thế, hình ảnh một thời gian khổ còn được biểu hiện qua những câu thơ:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Hình ảnh “oai linh thác gầm thét” và “Mường Hịch cọp trêu người” là những dẫn chứng sống động nhất về những gian khổ hiểm nguy mà người lính Tây Tiến đã phải trải qua khoảng thời gian “chiều chiều”, “đêm đêm” trở thành một khoảng thòi gian ước lệ, nó giống như một ám ảnh về Tây Tiến thời gian in sâu trong tiềm thức của chính tác giả. Viết về những gian khổ của người lính, ngòi bút của Quang Dũng cũng ghi lại những hình ảnh hết sức chân thực:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời
Bao nhiêu vất vả nhọc nhằn của người lính được thể hiện qua hai chữ “dãi dầu”. Tuy nhiên từ “dãi dầu” vẫn giúp cho người đọc cảm nhận được chút phong trần giá bụi của người lính trên đường hành quân, phải chăng vì thế hình ảnh của họ thấp thoáng bóng dáng của người tráng sĩ, chinh phu thuở nào. Qua những chữ “bỏ quên đời” ta thấy khí phách bản lĩnh của người lính lại được ngời sáng từ chính những hiện thực tưởng chừng như gian khổ khốc liệt – một chút bất cần phó mặc nhưng hơn hết là một tráng trí anh hùng, dẫu là mỏi mệt hay dầu là hy sinh thì họ vẫn coi những biểu hiện ấy rất đỗi nhẹ nhàng. Những người lính Tây Tiến khi chiến đấu thật anh dũng quả cảm nhưng những giây phút nghỉ ngơi của họ cũng đầy lãng mạn, mê say:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Họ bỏ lại sau lưng mình những hòn tên mùi đạn, gạt bỏ những lo lắng vất vả của cuộc chiến, giữa đời thường, người lính Tây Tiến hiện lên thật bình dị, gần gũi. Một buổi liên hoan bỗng chốc biến thành một ngày hội tưng bừng náo nhiệt qua lăng kính lãng mạn của người chiến sĩ không gian của đêm hội đuốc hoa thật rực rỡ lung linh, câu thơ tràn đầy ánh sáng và màu sắc, trong thơ như có hoạ. Chữ “bừng” được dùng rất hay, nó không chỉ là sự bùng lên của ánh sáng, của bó đuốc đêm hội mà là sự bùng lên của niềm vui, niềm say mê kiêu hãnh. Trong sự náo nức của đêm hội ấy, hình ảnh người em gái là hình ảnh trung tâm, bao nhiêu con mắt như đổ dồn về phía người em gái để mà kìa em xiêm áo tự bao giờ” — một cảm xúc ngạc nhiên đến sững sờ nhưng đi liền ngay sau đó là cảm xúc ngây ngất đắm đuối và say mê. Từ Hán việt “xiêm áo” tạo ra nét trang trọng, ở đây hình ảnh người em gái như được mỹ lệ hoá. Những chữ “tự bao giờ” như không giấu nổi cảm xúc ngây ngất của những người lính Tây Tiến, họ ngỡ như hình ảnh của đêm hội với người em gái ấy đã có tự lâu lắm để rồi bất chợt lại thấy ngỡ ngàng. Bức tranh đêm hội được lung linh hoá, mỹ lệ hoá để rồi người đọc tưởng người em gái ấy tựa như một nàng tiên bước ra từ cổ tích giữa hiện thực khốc liệt dữ dội người ta bắt gặp hình ảnh như là huyền thoại, đây chính là sắc thái lãng mạn của bài thơ. Điểm thêm vào bức tranh đêm hội ấy là hình ảnh của nhạc, của khèn, nhịp thơ đồng thời là nhịp của tiếng lòng náo nức mê say, tiếng nhạc của tâm hồn như lan toả ra từng câu chữ. Một thời mê say và lãng mạn của người lính Tây Tiến còn được gọi nhắc qua hình ảnh rất đẹp đẽ:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Hình ảnh của cơm lên khói, hương vị của nếp xôi nồng nàn mà tha thiết như quyện chặt tâm hồn người đi xa. Câu thơ chủ yếu gieo thanh bằng, tạo ra một cảm xúc lâng lâng chơi vơi, một chút bâng khuâng nhung nhớ, một chút da diết khắc khoải cũng đủ làm nao lòng người khi nhớ về Tây Tiến. Viết về một thời mê say ấy, Quang Dũng có những câu thơ rất đỗi tài hoa.
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Câu thơ thứ nhất như được bẻ gãy làm đôi, gợi ra cái trập trùng hiểm trở của núi rừng Tây Tiến. Còn câu thơ thứ hai giống như một tiếng buông lơi thật dịu nhẹ chơi vơi. Câu thơ như đẩy tư duy người đọc về một hoài niệm nào đó đã xa vắng trong nỗi niềm của tác giả: tưởng là mơ hồ không xác định, tưởng là vu vơ bất chợt nhưng lại cứ ám ảnh và khắc khoải trong tâm trí tác giả, không những thế, câu thơ còn cố tiết tấu giai điêu rất rõ thể hiện tính nhạc cao. Như vậy người chiến sĩ cũng chính là người nghệ sĩ. Cuộc sống kháng chiến không chỉ có gian khổ mất mát mà còn đẹp lung linh trong tâm hồn người lính. Chính cuộc sống này, cuộc sống đầy chất thơ và mộng này, đã xua tan đi những mỏi mệt gian lao trong đời sống chiến đấu của người lính. Tiếp đó, mạch cảm xúc đã có sự chuyển đổi: đang ở giọng náo nức giục giã mê say chuyển sang giọng điệu trầm lắng, bâng khuâng pha một chút hoài niệm ngậm ngùi:
Người đi Chầu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có thấy dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Hoài niệm của tác giả bắt đầu từ hình ảnh “chiều sương ấy”, không gian như thoáng phủ một nỗi buồn mênh mang. Chữ “ấy” có ý nghĩa định vị về mặt không gian như muốn đẩy những kỉ niệm lùi về một nơi rất xa, nó giúp cho người đọc cảm nhận được khoảng cách vời vợi của nhớ thương. Những câu thơ gợi nhiều hơn tả, các hình ảnh được gợi ra không phải là những hình ảnh cụ thể chi tiết mà chi là dáng, là hình, rất khó định hình, khó nắm bắt. Nhà thơ dường như không miêu tả cảnh mà chỉ gợi lại cái linh hồn của nó, hay nói đúng hơn cảnh vật được nhìn qua lăng kính nhớ thương, không rõ nét, mờ mờ ảo ảo, hư hư thực thực. Không phải miêu tả lau mà là “hồn lau”, không phải miêu tả người mà là “dáng người”, người đọc cảm nhận được một không gian hoang sơ vắng lặng đượm một nỗi buồn mênh mang. Đặc sắc nhất của khổ thơ là việc sử dụng cấu trúc câu “có thấy”, “có nhớ”, Đây không chí là câu hỏi má còn giống như một lời gợi nhắc, một lời nhắn nhủ tha thiết ân tình. Phải chăng hồn lau ấy, dáng người ấy đã trở thành những hình ảnh ám ảnh tâm hồn tác giả, để rồi khi gợi nhắc về nó giống như một điểm nhấn của xúc cảm. Đặc biệt, sự biến đổi trong cách sử dụng các cụm từ “có thấy”, “có nhớ” còn là sự thay đổi về giác quan, không chi là cái nhìn mà còn là tâm hồn, trái tim được đánh thức. Câu thơ thứ tư khá độc đáo, nó xuất hiện hình ảnh “nước lũ” đối lập với hình ảnh “hoa đong đưa”: một bên là cái mạnh mẽ dữ dội, một bên là cái nhẹ nhàng thật khẽ thật êm. Có lẽ hình ảnh “hoa đong đưa” không còn là hình ảnh tả thực mà đã trở thành hình ảnh diễn tả tâm trạng nỗi niềm của tác giả. Từ láy “đong đưa” khác với từ láy “đu đua”, nó không chỉ miêu tả dáng hình và sự chuyển động như từ “đu đưa” mà còn là đầy tình ý, nó còn là sự đong đưa của ánh mắt đầy hoài niệm mê say, đầy sắc thái lãng mạn và phong cách sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Quang Dũng. Đọc Tây Tiến chúng ta như sống lại một thời lửa cháy cùng đoàn quân lừng tiếng đã đi vào lịch sử. Để khắc hoạ chân dung người lính, nhà thơ đã sử dụng những chi tiết, hình ảnh thực của đoàn quân Tây Tiến nhưng những hình ảnh đó lại được diễn tả bằng bút pháp lãng mạng để tô đậm cái phi thường, tài hoa, đem đến cho người đọc một vẻ đẹp độc đáo hiếm có của người lính trong thời kỳ lịch sử:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Nhà thơ Quang Dũng gọi tên binh đoàn của mình bằng tên gọi khá thú vị “đoàn binh không mọc tóc”. Thật thú vị khi những con người ấy lại lấy chính hiện thực gian khổ khốc liệt để biến thành niềm kiêu hãnh và tự tôn cho chính mình. Nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng đã từng gọi tiểu đội của mình bằng cái tên bắt nguồn từ hiện thực thiếu thốn khắc nghiệt “tiểu đội xe không kính”, qua đó ta thấy được tinh thần lạc quan và chất lính dí dỏm hài hước. Câu thơ thứ hai tạo ra hai vế đối lập: “quân xanh màu lá” với “dữ oai hùm”, một bên là cái thiếu thốn khó khăn gian khổ, một bên là khí phách anh hùng của những người lính Tây Tiến. Ba tiếng “dữ oai hùm” tạo nên một âm hưởng mạnh mẽ hùng tráng cho câu thơ, người đọc cảm nhận được khí thế của đoàn quân ra trận, câu thơ ngắt nhịp mạnh tô đậm nét hùng dũng. Những người lính Tây Tiến cũng là những người lắm mộng nhiều mơ, những người giàu khát vọng hoài bão. Đến đây nhà thơ đã tạo ra nét vẽ chân thực về hình ảnh người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp:
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Hai câu thơ đã nhấn mạnh chữ “mộng” và “mơ”. Từ “trừng” được dùng khá đặc sắc, nó cho thấy bao nhiêu tâm nguyện, bao nhiêu khát vọng hoài bão tự đáy lòng đêu dâng cả lên trên ánh mắt. “Mắt trừng” chỉ một hành động mạnh, nhưng không phái là trừng trị, doạ nạt mà là cái nhìn đau đáu, khôn nguôi thể hiện những nhung nhớ, ước ao đến khắc khoải. Chữ “mộng” khiến cho câu thơ như bị trùng xuống, ẩn chứa xúc cảm bâng khuâng. Câu thơ của Quang Dũng gợi nhắc người đọc tới một câu thơ của Nguyền Đình Thi: “Những đêm dài hành quân nung nấu – Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu. Nổi nhớ người yêu nhớ “dáng kiều thơm” nào đó thật đời thường, bình dị nhưng cũng thật cao quý. Nó khiến cho hình ảnh người lính trở nên chân thực gần gũi hơn. Nỗi nhớ ấy trong hành trang của họ như tiếp thêm sức mạnh nghị lực để chiến đấu và chiến thắng, nó như một điểm tựa vững chắc cho những thanh niên học sinh Hà Nội rời ghế nhà trường tham gia chiến trận – những con người “lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa”.

Những người lính Tây Tiến sống anh hùng mà chết cùng anh hùng:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đì chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Cái độc đáo là nhà thơ viết về sự ra đi của họ nhưng không tô đậm sự sầu thương bị luỵ sự ai oán não nùng mà nhấn mạnh dũng khí hùng tráng, khí phách anh hùng. Sau những câu thơ rắn rỏi, đẹp đẽ đến đây âm điệu câu thơ chợt trầm và trùng xuống, nó giống như một thước phim quay chậm.

Còn gì thiêng liêng và cao cả hơn sự hi sinh, sự chấp nhận gian khổ của người lính. Trên đường hành quân người chiến sĩ Tây Tiến gặp biết bao mồ viễn xứ của những kẻ chết xa quê. Nhưng những người chiến sĩ của chúng ta nhìn với ánh mắt bình thản bởi họ chấp nhận điều đó. Nếu câu thứ nhất tô đậm cái “Bi” thì câu thứ hai tô đậm nét “Tráng”, “Hùng”. Câu thơ thứ hai giống như một cái hất đầu ngạo nghễ của anh lính Tây Tiến: bất chấp khó khăn, bỏ mặc chết chóc hiểm nguy cận kề, nhữug ngưòi lính Tây Tiến vẫn kiên định trong ý chí, dũng cảm trong hành động, ngạo nghễ trong khí phách người anh hùng. Tác giả mượn hình ảnh “áo bào” để gợi tả sự ra đi của những người lính. Đặc biệt nó còn gắn vói hình ảnh thiêng liêng và tạo ra sắc thái trang trọng, giảm bớt nồi buồn thương bị luỵ. Nó tạo ra một hình ảnh hết sức cảm động, giống như một sự sẻ chia đồng cảm của tác giả đối với những người lính Tây Tiến. Câu thơ tiếp lại xuất hiện hình ảnh sông Mã – chứng nhân của lịch sử. Sông Mã tấu lên “khúc độc hành” – khúc ca đơn độc buồn thương. Chữ “gầm” – biện pháp nhân hoá, nồi nhớ thương của lòng người như hoá thân vào nỗi nhớ thương của dòng sông hay dòng sông ấy đang chở đi những khúc ca đau đớn của con người. “Anh về đất” là hoá thân cho dáng hình xứ sở, thực hiện xong nghĩa vụ quang vinh của mình. Tiếng gầm của sông Mã về xuôi như loạt đại bác rền vang, vĩnh biệt người con yêu dấu của giống nòi. Cuối cùng, sau khi đã hồi tưởng lại bình ảnh đoàn binh Tây Tiến một thời mê say lãng mạn, Quang Dũng đã bộc lộ nồi niềm mong ước gặp lại Tây Tiến:
Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi
Câu thơ đã trở về với mạch cảm xúc chung của bài thơ, cảm xúc thương nhớ, nhưng vẫn mang trong nó âm hưởng tráng trí ngất ngời. Câu thơ nói về biệt li, về xa cách, có ngậm ngùi nuối tiếc nhưng vần đầy dũng khí, quyết tâm. Khoảng cách càng xa thăm thẳm thì nỗi nhớ càng trở nên vời vợi bởi xa Tây Tiến không biết bao giờ mới gặp lại. Người đọc cảm thấy nồi nhớ thương như là đang đầy cả câu thơ. Hai câu cuối, giọng điệu và mạch cảm xúc có sự chuyển hướng: câu thơ giống như một lời mời gọi, một lời nhắn nhủ, ước hẹn tha thiết ân tình. Phải chăng đây là lời hẹn gặp Tây Tiến vào mùa xuân – mùa xuân của hội ngộ, của chiến thắng. Điều đó chứng tỏ tác giả mong ngày gặp lại Tây Tiến, trở về Tây Tiến chính là ngày chiến thắng. Câu thơ kết vang lên đầy kiêu hãnh như một lời thề, lời hứa quyết tâm. Từ nồi nhớ về một đoàn binh, về những con người cụ thể đã hoá thân thành nỗi nhớ về một mảnh đất, một quê hương, Tây Tiến đã trở thành nỗi nhớ, niềm yêu tha thiết của Quang Dũng.

Nhà phê bình Phong Lan nhận định: “Tây Tiến là một tượng đài bất tử về người lính vô danh” – bất tử bởi chính những vẻ đẹp hào hoa, hào hùng bi tráng. Vì vậy, người lính Tây Tiến qua bài thơ cùng tên của Quang Dũng sẽ sống mãi trong cõi vĩnh hằng và trong thế giới nhân sinh.


(Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền, giáo viên dạy văn tại trường THPT chuyên Hùng Vương - Việt Trì - Phú Thọ)
tửu tận tình do tại
42.75
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Cảm nhận về hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến”

Hình ảnh người lính Việt Nam nói chung và những người lính thời kỳ chống Pháp nói riêng từ lâu đã đi vào văn chương như một nguồn thi cảm. Các nhà thơ viết về người lính với tất cả niềm kiêu hãnh, tự hào. Giữa muôn vàn những tác phẩm như vậy, Tây Tiến là bài thơ có vị trí đặc biệt. Dù ra đời vào năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, vậy mà hơn nửa thế kỷ sau, chất lãng mạn – hào hùng của tác phẩm vẫn còn sức hấp dàn lay động, làm say mê bao tâm hồn. Trong Tây Tiến, người ta thấy hiện lèn sừng sững bức tượng đài người lính, Những con người rất thật, rất đẹp, rất có hồn, trường tồn, bất tử mãi mãi với không gian, thời gian!

Thật vậy!

Khi gấp trang Tây Tiến lại, nhiều người trong số chúng ta có thể tìm ra lơi giải đáp cho ranh giới giữa sự giống và khác nhau trong các tác phẩm văn chương. Thực ra Tây Tiến không phải một tác phẩm có đề tài mới lạ. Tất cả những gì mà nó thể hiện cũng chi xoay quanh hình ảnh người lính. Nhưng ở Tây Tiến người ta không thấy những đau thương mất mát đến bi luỵ, lại càng không thấy những lời cổ vũ hô hào đến sáo mòn. Người lính của Quang Dũng đã bước từ khuôn mẫu gò bó để đến với đời thực, với hiện thực kháng chiến gian khổ bộn bề. Chính tính chân thực ấy đã tạo khả năng hướng ngoại cho tác phẩm, tạo mối dây liên kết gắn bó giữa hình tượng thơ và độc giả trong suốt chặng đường lịch sử dài. Tây Tiến đã tái tạo và bất tử được hình ảnh binh đoàn Tây Tiến đẹp rạng ngời. Nhũng người lính Thủ đô đi vào cuộc kháng chiến mang theo vẹn nguyên cái mộng mơ của người con đất Hà Thành, Bài thơ cứ miên man trong nỗi nhớ, để rồi từ đây, một thời gian khổ, một thời mê say được gợi lại. Đoàn binh Tây Tiến đến với chúng ta không chỉ với tư cách những chiến sĩ từng trải qua khó khăn gian khổ mà còn với tư cách những chàng trai lãng mạn nhưng không kém kiêu dũng. Đối với mỗi người con Việt Nam, họ đã trở thành anh hùng trong trang sử vàng dân tộc.

Hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên, trước hết là qua dòng hồi tưởng chan chứa đong đầy của nhà thơ. Đây cũng là một nét khác biệt của tác phẩm. Không giống như nhiều bài thơ khác được ghi lại ngay sau các sự kiện lịch sử, Tây Tiến chỉ đơn thuần như những kỷ niệm riêng của Quang Dũng về một thời gian kho mê say. Vì vậy, tính thời sự chỉ mất đi chút ít, nhưng tính trữ tình lại được thêm vào rất nhiều. Đó là nỗi nhớ ắp đầy trong khoảng trống câu chữ, mà lúc nào đọc lên người ta cũng xúc động nghẹn ngào. Cả bài thơ, kỷ niệm lúc nào cũng thi nhau gợi về, tưởng như nỗi nhớ đã có từ lâu lắm, để rồi đến hôm nay mới có dịp vỡ oà:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Câu thơ như lời gọi mời, gợi nhớ, gọi nhắc về một thời quá khứ gian khổ mà đẹp vô cùng. Mở đầu bài thơ, người chiến sĩ Tây Tiến không hiện lên trực tiếp mà gián tiếp qua hình tượng “Sông Mã”. Dòng sông Mã không chỉ là chứng nhân lịch sử đồng hành cùng binh đoàn Tây Tiến mà còn là biểu tượng cho những chiến sĩ Tây Tiến oai hùng. Đứng ở hiện tại và đưa mắt về quá khứ trong Quang Dũng dâng tràn một cảm xúc khó tả. Nòi nhớ “chơi vơi”. Người đọc như được nhập thân vào với tác giả để cảm nhận những thổn thức, mong mỏi, khát khao trong lòng người. Dường như trong nồi nhớ ấy là cả chút gì hụt hẫng, nao lòng, cứ mơn man, lan toả, thấm sâu vào cảnh vật, con người. Đó cũng là xuất phát điểm bài thơ, để từ đó nỗi nhớ nhung của nhà thơ tự nó gọi về, tạo nên một Tây Tiến bất hủ.

Trong dòng hồi ức của Quang Dũng, người lính Tây Tiến hiện lên song hành với biết bao khó khăn, gian khổ.

Khi nói đến chiến tranh, ấn tượng muôn đời bao giờ cũng là sự đau thương, chia lìa, sự tang tóc, buồn thảm. Đời lính chiến đấu vì thế không thể tránh khỏi những vất vả, khó khăn. Nhưng ngoài những khó khăn chung toàn đất nước thời ấy, người lính Tây Tiến còn phải chịu đựng nhiều khó khăn riêng cho địa hình đóng quân khắc nghiệt, hiểm trở mang lại:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Hai câu thơ là bốn nét vẽ gian khổ đầy ấn tượng. Nếu câu thơ đầu gieo hầu hết thanh trắc thì câu thơ thứ hai lại gieo 9/14 thanh bằng. Cái tài của Quang Dũng là dù gieo thanh bằng hay thanh trắc vẫn giúp người đọc nhận ra cái trúc trắc gập ghềnh đầy hiểm nguy của địa hình. Quả thực “thi trung hữu nhạc, thi trung hữu hoạ”. Hàng loạt từ láy “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” được đặt cạnh nhau tạo nên hiệu quả cộng hưởng ngôn ngữ rất cao. Những hình ảnh thơ nối nhau liên tiếp đã gọi cho người đọc hình dung liên tưởng về không gian mở. Không chỉ sâu mà còn rất rộng, không chỉ cao mà còn rất xa. Dường như khó khăn cứ chất chồng như từng dãy núi trùng trùng, điệp điệp.

Điều đặc biệt là những chiến sĩ Tây Tiến lại có cái nhìn rất trẻ trung, tinh nghịch và lãng mạn về hiện thực gian khổ ấy. Trong đôi mắt họ, hiện thực dù gian khổ đến đâu cũng vẫn có nét đẹp, niềm vui riêng. Họ vẫn có thể “miệng cười buốt giá” trước mọi gian lao:
Heo hút cồn mây súng ngửi trời.
Câu thơ, tự nó đã tách ra làm hai phần. Nếu bốn tiếng thơ đầu còn diễn tả sự gian khổ, thì ba tiếng thơ sau đã ánh lên chút trẻ trung đầy lãng mạn. Từ láy “heo hút” được đảo lên đầu như một điểm nhấn quan trọng cho câu thơ. Quang Dũng đã rất tinh tế khi sử dụng “heo hút” chứ không phải “hun hút”. Hai từ láy thoạt nhìn có thể giống nhau, nhưng thực chất lại có ý nghĩa biểu đạt khác nhau. Nếu “hun hút” gợi được chiều sâu và chỉ chiều sâu mà thôi thì “heo hút” vừa gợi tả độ sâu, vừa đánh thức cảm giác trống trải, lạnh lẽo, hoang vắng, quạnh hiu. Sự trống vắng ấy do địa hình tạo nên và đã có ảnh hưởng rất lớn đến con người. Trước không gian rợn ngợp, con người vốn đã bé nhỏ nay lại càng nhỏ bé hơn. Nhưng cái “tâm” thì không biên giới, không độ cao nào có thể ngăn trở. Càng trong gian khó, hiểm nguy, sự can trường cũng như tinh thần lạc quan của người chiến sĩ càng cất cánh. Hình ảnh “súng ngửi trời” thể hiện một chút dí dỏm, trẻ trung, một chút tinh nghịch, đáng yêu, đáng mến. Cũng chẳng có gì là lạ, bởi binh đoàn Tây Tiến đều xuất thân từ những thanh niên Thủ đô tuổi đời còn rất trẻ. Họ vẫn còn thiết tha yêu cuộc đời. Ý thơ ấy sao mà giống với “đầu súng trăng treo” của Chính Hữu. Thì ra ở trong cùng một hoàn cảnh chiến đấu, những ý tưởng lớn đã gặp nhau và tạo ra mối liên kết bền chặt giữa những con người có cùng mục đích sống. Vượt lên trên cả hoàn cảnh, đó chính là tâm hồn người chiến sĩ.

Có thể nói, những khó khăn gian khổ đã trở thành một phần không thể thiếu của đời lính và trở thành nỗi ám ảnh in sâu trọng tiềm thức tác giả. Quang Dũng không bao giờ có thể nào quên.
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.
Nhà thơ đà tái tạo lại hình ảnh điển hình; sống động nhất về một thời đầy khó khăn, thử thách. “Chiều chiều”, “đêm đêm” là những khoảng thời gian ước lệ, không rõ là buổi chiều hay buổi đêm nào. Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc không phải một chiều, một đêm mà là rất nhiều. Những khó khăn gian khổ như trải dài cùng năm tháng.

Khi mở đầu bài thơ Tây Tiến, ấn tượng đầu tiên hiện về trong Quang Dũng là những kỷ niệm về một thời gian khổ. Hình tượng người lính Tây Tiến luôn xuất hiện song hành với những khó khăn. Trên mỗi bước đường họ đi qua đều có những hiểm nguy không chỉ từ kẻ thù mà còn từ thiên nhiên đem lại. Nhưng cũng như bao người lính khác khó khăn không làm chùn bước con người mà chi nâng tầm con người lên. Thật đáng khâm phục khi trong hoàn cảnh nào, họ vẫn lạc quan đầy trẻ trung tinh nghịch. Chính nét tinh thần quý báu ấy đã tạo nên sức sống trường tồn của Tây Tiến với muôn đời.

Không chi biết đối mặt với hiện thực khó khăn, mà còn hơn thế nữa, hình ảnh người lính Tây Tiến còn hiện lên với vẻ đẹp lãng mạn vô cùng – một nét đẹp của những người con đất Hà Thành ngày xưa.

Khi xông pha trận mạc, người lính Tây Tiến có thể trở thành những anh hùng chiến đấu anh dũng quả cảm, nhưng trong giờ phút giải lao, họ cũng thật gần gùi, thật chân thành. Bỏ lại những mũi đạn, hòn tên, gạt sang một bên những lo toan kháng chiến bộn bề, họ trở về với đúng tâm hồn mình: những tràng trai trẻ tuổi, hào hoa mơ mộng rất bình dị giữa đời thường. Qua lăng kính lãng mạn của họ, một buổi liên hoan văn nghệ bỗng chốc trở thành một đêm hội:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khen lên mạn điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Không gian đêm hội đuốc hoa hiện lên thực rực rỡ lung linh, ngập tràn ánh sáng. Câu thơ trước như gọi câu sau. Nhạc thơ ngọt ngào du dương nhưng vẫn toát lên niềm vui, niềm rạo rực đương bồi hồi trong ngực trẻ. Cộng hưởng với âm nhạc của câu chữ là âm thanh của tiếng khèn. Tất cả hoà quyện vào nhau, như vẫy gọi, chào mời, như gợi thương gợi nhớ, như trì níu, vấn vương. (Dường như đọc câu thơ, không phải người). Và dường như không phải đọc thơ rồi tìm thấy Quang Dũng trong thơ mà chính nhịp lòng náo nức mê say của người lính Tây Tiến đã toả rạng để dệt nên những vần thơ bất hủ.

Nếu ở khổ thơ đầu người ta còn thấy Quang Dũng đắm mình trong hồi tưởng về một thời gian khổ thì đến đây, những xúc cảm ấy quả thực, tâm hồn người chiến sĩ Tây Tiến là cả một thế giới rộng sâu. Đi vào khám phá thế giới ấy, có những khi cái ta bắt gặp không phải là niềm vui, mà là những kỷ niệm buồn. Nét “bi” trong mỗi con người chiến sĩ Tây Tiến cùng thật đặc biệt: “bi” nhưng không “luỵ”, “bi” nhưng không gắn liền với nước mắt. Nồi buồn ở đây gắn với nỗi nhớ, thật dìu dịu, nhè nhẹ mà như mơn man, lan toả. Nỗi buồn đậm chất lãng mạn, mộng mơ. Mọi hình ảnh của thực tại đều bị nhoà đi rồi hoàn toàn biến mất, nhường chỗ cho miền nhớ miền thương đang thi nhau gọi về:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lù hoa đong đưa
Nhịp thơ đột ngột chuyển. Từ những dòng thơ sôi nổi, náo nức, mê say bỗng chuyển sang bâng khuâng pha chút ngậm ngùi hình ảnh thơ giờ lại càng mờ mờ, ảo ảo. Vì vậy tính chất lãng mạn ở đây như được nhân lên gấp đôi. Từng vần thơ sâu lắng cứ vang vang rồi in đậm, khắc sâu trong tiềm thức độc giả.

Có thể nói ở khổ thơ này Quang Dũng gợi nhiều hơn tả. Nhà thơ mở ra không gian hư hư thực thực bằng hình ảnh buổi “chiều sương ấy”. Dường như chữ “chiều sương” đã gợi nhớ, gợi thương cho nhà thơ nhiều quá, để từ đây hoài niệm thi nhau hiện về. Chỉ một từ “ấy” thôi mà có sức đẩy hoài niệm về một miền rất xa trong quá khứ. Câu thơ có ắp đầy một nỗi nhớ niềm thương khó tả.

Cái hay của Quang Dũng là ông đã dùng chính sự lãng mạn của người lính Tây Tiến để tạo ra nhiều vần thơ đầy mộng mơ. Khổ thơ không gợi ra những hình ảnh, chi tiết cụ thể mà chỉ là những “dáng”, những “hình”. Có cảm giác như trong nỗi niềm nhớ thương Quang Dũng đã nắm bắt được toàn bộ thần thái sự vật và bất tử nó trong thi ca. Cảnh vật được nhìn qua lăng kính nhớ thương vì vậy trở nên mờ mờ, ảo ảo, hư hư, thực thực. Hai tiếng “có thấy”, “có nhớ” gieo thanh trắc như những nốt nhạc vút cao của khổ thơ, gợi nhắc con người về một thời quá khứ một cách thiết tha, ân tình.

Từ cái nhìn trực giác (có thấy) đến cái nhìn trong tâm tưởng (có nhớ) là cả sự chuyển biến trong cảm xúc. Dường như trái tim, tâm hồn của cố nhân (Quang Dũng) đã được đánh thức, để rồi từ đây chỉ còn lại những vắng đọng cùng nồi buồn mênh mang trong lòng người.

Điểm nhấn của nỗi nhớ ấy hướng về một hình ảnh đặc biệt: “trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. Câu thơ gợi ra hai hình ảnh đối lập: một mạnh mẽ (dòng nước lũ); một nhẹ nhàng, khe khẽ, dịu êm (hoa). Phải chăng hình ảnh “hoa đong đưa” không còn là hình ảnh thực nữa mà đã trở thành nỗi nhớ, niềm thương tác giả? Chữ “đong đưa” được dùng rất tinh tế. “Đong đưa” chứ không phải “đung đưa”. Bởi “đung đưa” chỉ có thể diễn tả trạng thái chuyển động, còn “đong đưa” diễn tả cả ánh mắt. Có lẽ nào hình ảnh “hoa đong đưa”, cộng hưởng với “dáng người trên độc mộc” đã ngầm gợi nên hình ảnh người con gái’? Nhìn dưới góc độ ấy thì tâm hồn người chiến sĩ Tây Tiến thật lãng mạn quá, đáng trọng đáng mến đến vô cùng.

Có thể nói người lính Tây Tiến là những chàng trai biết vượt lên trên hoàn cảnh. Chiến tranh ác liệt với máu, với đạn lửa và nước mắt không thể xoá đi sự lãng mạn trong tâm hồn họ. Kể cả khi ranh giới giữa sự sống với cái chết liền kề, họ vẫn cất cao tiếng hát yêu cuộc đời. Họ lãng mạn cả khi buồn. Họ mộng mơ cả khi vui. Chính nét đẹp tâm hồn ấy đã đưa họ đến gần với mọi thế hệ độc giả, và bất tử họ trong lòng người đọc muôn đời.

Không chi biết đối mặt với hiện thực gian khổ, sống lãng mạn, mộng mơ, người lính Tây Tiến còn hiện lên với tư cách những anh hùng với tráng chí ngất trời.

Đối với người lính nói chung và binh đoàn Tây Tiến nói riêng, đã bước vào chiến tranh là phải chấp nhận đau khổ, hy sinh, mất mát. Nhưng ngời sáng ở những con người Tây Tiến oai hùng là cách tiếp nhận hiên thực bình thản đến lạ kỳ. Họ biết tự biến gian khổ, khốc liệt thành niềm kiêu hãnh tự tôn cho chính mình:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Ta đã từng thấy một “Tiểu đội xe không kính” dí dỏm trong thơ Phạm Tiến Duật thì nay lại thấy một “đoàn binh không mọc tóc” trong thơ Quang Dũng. Người lính Tây Tiên tự gọi tên đoàn binh của mình khá thú vị. Trong câu thơ người ta thấy chút ngang tàng của người lính trẻ tuổi. Tóc không mọc không phải vì bị bệnh mà vì “không thèm mọc”. Cộng hưởng vào đó là nét kiêu hùng ‘‘Quân xanh màu lá dữ oai hùm”. Hoàn cảnh thiếu thốn gian khổ chỉ là điều kiện tôi luyện thêm khí phách anh hùng cho người lính Tây Tiến. Đọc câu thơ người ta thấy phơi phới một niềm tin tưởng, lạc quan vào cuộc đời và in đậm một tráng chí hùng dũng.

Mục đích của Quang Dũng khi sáng tác Tây Tiến không phải để dựng lên hình tượng người chiến sĩ tiêu biểu trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Bài thơ chỉ là tấm chân tình mà nhà thơ gửi đến đồng đội cho vợi đi nỗi nhớ đơn vị cũ. Nhưng chính tính chân thực trong cảm xúc đã cho người đọc một tấm chân dung sống động về người lính Tây Tiến. Họ không hiện lên với khuôn mẫu của tráng trí, anh hùng mà cũng rất đỗi lắm mộng, nhiều mơ:
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Nếu câu thơ thứ nhất nhấn mạnh chữ “mộng” thì câu thơ thứ hai nhấn mạnh chữ “mơ”. Câu thơ mang vẹn nguyên cả ước vọng và điểm đến cuối cùng của đời lính Tây Tiến. Chữ “trừng” được sử dụng khá độc đáo. Người đọc có cảm tưởng như mọi ước mơ khao khát tận đáy lòng đã trào dâng và đong đầy trong ánh mắt người lính. “Trừng” là động từ mạnh lại được đặt cạnh “mơ” – lúc đầu ngỡ như một sự khập khiễng. Nhưng thực ra câu thơ rất giàu giá trị biểu cảm. Từ “trừng” không có nghĩa trừng trị, doạ nạt mà thể hiện cái nhìn đau đáu, khôn nguôi, những nhung nhớ, khát khao đến khắc khoải. Câu thơ như trùng xuống trong xúc cảm bâng khuâng dâng tràn. Từ thơ ấy gợi nhắc đến hình ảnh thơ quen thuộc:
Những đèm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.
(Đất nước – Nguyễn Đình Thi)
Thì ra bao giờ cũng vậy, đích đến cuối cùng của những người lính luôn là hạnh phúc. Nồi nhớ của họ hướng cả về “dáng kiều thơm” nào đó ngoài cuộc đời. Họ ra đi chiến đấu vì tự do, độc lập, nhưng trước hết là vì cuộc sống tương lai hanh phúc mà họ khao khát. Chính vì vậy mà “dáng kiều thơm” trở thành điểm tựa, niềm hy vọng để tiếp thêm cho họ sức mạnh chiến đấu và chiến thắng.

Những người lính Tây Tiến sống anh hùng mà chết cũng anh hùng. Nhưng không lúc nào trong bài thơ ta thấy hiện lên nét sầu thương, ai oán, bị luỵ, não nùng. Ngay cả khi viết về cái chết, Quang Dũng vẫn nhấn mạnh cái dũng khí hùng tráng của đoàn binh Tây Tiến:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời;
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh;
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lèn khúc độc hành.
Ba lần Quang Dũng nhắc tới sự hy sinh, nhưng lần nào cũng là hình ảnh ẩn dụ để tránh đi từ “chết”. Dường như khi người lính Tây Tiến ngã xuống chỉ là khi anh tạm nghỉ chân trước cuộc đời. Cái chết không đồng nghĩa vói ngừng chiến đấu vì tâm hồn, vì ước nguyện của anh sè mãi trường tồn với thời gian. Anh ngã xuống nhưng vẫn kịp trao ngọn lửa tuổi trẻ cho những đồng đội tiếp tục con đường cách mạng vinh quang. Sự hy sinh của các anh làm người đọc không khỏi nghẹn ngào: “Rải rác biên cương mồ viền xứ”. Chữ “rải rác” được đảo lên đầu câu, nhấn mạnh cho sự quạnh quẽ, lạnh lẽo, hoang vắng. Người đọc thấy xót xa thay cho những người con chiến đấu vi Tổ quốc mà phải gửi xác nơi xứ người.

Nhưng đối với người trong cuộc họ không cảm thấy xót xa đau đớn “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.

Câu thơ gợi nhắc người đọc về ý thơ Nguyễn Đình Thi: “Người ra đi đầu không ngoảnh lại”. Câu thơ giống như một cái hất đầu ngạo nghễ, bất chấp khó khăn, bỏ mặc sự chết chóc cận kề, những người lính Tây Tiến vẫn kiên định trong ý chí, ngạo nghễ trong phí phách. Đó là tư chất người anh hùng.

Nói về sự hy sinh của người lính, tác giả mượn hình ảnh áo bào. Câu thơ vừa mang sắc thái trang trọng, vừa giảm bớt sắc thái bi luỵ buồn thương. Đằng sau câu chữ là cả sự sẻ chia, đồng cảm cũng như trân trọng, yêu thương chân thành mà tác giả dành cho người lính Tây Tiến.

Cuối khổ thơ hình ảnh sông Mã một lần nữa trở lại: Sông Mã được nhân hoá như một chứng nhân lịch sử theo suốt dọc cuộc đời binh đoàn Tây Tiến. Mở đầu bài thơ hình ảnh Tây Tiến được đi liền với đoàn binh thì đến cuối bài, chỉ còn “sông Mã gầm lên khúc độc hành” khúc nhạc cô đơn, buồn thương khiến ta cảm động. Nỗi nhớ thương của lòng người đã hoá thân vào dòng sông hay chính dòng sông ấy chở đi khúc ca đau đớn của con người? Câu thơ gợi lên sự hy sinh trong tráng chí, tư thế người anh hùng.

Có lẽ hình tượng người lính Tây Tiến đã trở thành bất tử với muôn đời. Dòng lịch sử có thể đổi thay nhưng mọi thế hệ sau vẫn gợi nhắc đến các anh như hình tượng đẹp đẽ nhất. Qua dòng hồi tưởng của Quang Dũng, những chiến sĩ Tây Tiến hiện lên trong sự đối mặt với khó khăn, gian khổ nhưng lúc nào cũng lạc quan phơi phới yêu đời. Họ ra đi mang theo vẹn nguyên sự lãng mạn, mộng mơ của con người Hà Nội. Họ sống anh hùng, hy sinh cũng anh hùng. Vói âm hưởng thơ lúc dữ dội, khi sôi nổi, lúc lại vang vọng, trầm lắng, bài thơ đã dẫn hồn người đọc trở về một thời quá khứ xưa, để cùng lắng cảm trong nỗi nhớ thương da diết của Quang Dũng về những đồng đội anh hùng.

Tày Tiến đã trở thành một kỷ niệm đẹp trong lòng người đọc. Hình ảnh đoàn binh Tây Tiến cứ mãi gợi nhắc trong lòng ta về một thế hệ tuổi trẻ. Hình ảnh thơ luôn quấn lấy ta, khiến ta xúc động nghẹn ngào bởi:
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.


(Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền, giáo viên dạy văn tại trường THPT chuyên Hùng Vương - Việt Trì - Phú Thọ)
tửu tận tình do tại
43.75
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Oai Linh hay oai linh!?!

"...Chiều chiều oai linh thác gào thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người..."

Tôi thấy 2 câu này mang tính đối khá chuẩn như Đường thi vậy, cho nên không biết Oai Linh có khi nào là một điạ danh hay danh từ riêng nào đó ở Tây Bắc không nhỉ?!?

22.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Phân tích 1 đoạn trong bài thơ Tây Tiến - Quang Dũng

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Đoạn thơ đã tập trung khắc hoạ hình tượng người lính Tây Tiến từ ngoại hình, nội tâm co đến cái chết, nhưng hình tượng thơ từ mang bút pháp lãng mạn, có xu hướng tô đậm những cái phi thường sử dụng rộng rãi các thủ pháp tương phản, tác động mạnh vào cảm quan người đọc, kích thích trí tưởng tượng của họ.

Đoạn một của bài thơ tập trung miêu tả khung cảnh vừa hoang vu, hiểm trở, vừa hùng vĩ, dữ dội khác thường của núi rừng rồi tiếp theo sau đó, đoạn hai thể hiện những nét mĩ lệ, thơ mộng của Tây Bắc. Đến đoạn này (đoạn ba) nhà thơ Quang Dũng đã trực tiếp thể hiện người lính Tây Tiến với một vẻ đẹp độc đáo đến kì dị, gây ấn tượng đặc biệt:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Khi viết “đoàn binh không mọc tóc”, “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” - những hình ảnh khá kì dị này hẳn nhà thơ biết hơn ai hết rằng sự ăn uống kham khổ, thiếu thốn, sốt rét, đã làm cho da người xanh xạm, tóc rụng hoặc do yêu cầu chiến đấu mà phải húi trọc đầu cho tiện. Nhưng Quang Dũng không muốn chỉ nhìn đoàn quân theo khía cạnh thực tế không đẹp đó, mà như mỉm cười hóm hỉnh xem đó là một biểu hiện của tướng mạo phi thường, chứa đưng một sức mạnh tiềm tàng, bí ẩn nào đó làm quân thù khiếp vía theo quan niệm xưa.

Cũng vậy, hình ảnh “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” tuy có một dáng vẻ oai hùng xưa cũ, nhưng nói đúng cái thực của nhiệm vụ phối hợp chiến đấu với bộ đội Lào để tiêu diệt sinh lực địch. Và hình ảnh Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm với 3 chữ “dáng kiều thơm” tuy có phần sáo mòn nhưng vẫn nói được nỗi nhớ nhà da diết của các chàng trai Hà thành. Phải dáng kiều thơm mới xứng với người anh hùng trừng mắt gửi mộng qua biên giới chứ!

Hình ảnh “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” đượm một chút ý vị thê lương của những cái chết xa nhà liền được khoả lấp bằng tình cảm lí tưởng coi cái chết nhẹ tựa lông hồng “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Hình ảnh “Áo bào thay chiếu anh về đất” cũng làm cho cái chết của người chiến sĩ thêm phần trang trọng, cổ điển. Nhưng cái bề ngoài lãng mạn ấy không che lấp được nỗi đau dữ dội ở bên trong. Đến câu “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” thì tiếng khóc bị nén lại đã hoá thành tiếng gầm của sông núi quê hương tạo nên một âm thanh bi tráng cho bài thơ. Sông Mã như tấu lên khúc nhạc trầm hùng tiễn đưa linh hồn những người chiến sĩ về nơi an nghỉ.

11.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời

Trang trong tổng số 3 trang (21 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] ›Trang sau »Trang cuối