Than ôi!
Mây nam ngất mấy trùng non nước, trông bờ cõi hằng nhớ lối chinh hành;
Gió đông vầy muôn khóm cỏ hoa, đổi ngày tháng lại tiếc người lao tuỵ.

Kiếp nam nhi vẹn nghĩa ấy nên danh;
Đạo sư suý suy tình mà đặt lễ.

Ai nấy:
Cá nước phải duyên;
Cung tên là chí.

Tự ta đội chín lần sống thác, lệnh cửa viên nổi tiếng trống ngọn cờ;
Cùng nhau vâng muôn dặm ruổi rong, đoàn áo giáp trải chân rừng mặt bể.

Ôm chữ trung thì xương thịt cũng liều;
Gánh việc võ dẫu chông gai xá kể.

Nanh vuốt trước sáu quân hăm hở, khi dậy quê nhà, khi sang đất khách, lần tới buổi nương chỉ bắc, từng dãi sôi đạp nóng chốn giang nan;
Đồng việt trong trăm trận pha phôi, kẻ dàn đồn bộ, kẻ chống buồm tàu, đều chăm niềm dẹp bắc bình tây, những trải gió dầm mưa phen tiến chỉ.

Theo nhung hàng ra sức đã dầy;
Giữ chiến pháp lấy mình làm nhẹ.

Ngậm ngùi lúc tên bay đạn lạc, ngàn cỏ xanh đầy rẫy nấm chinh phu;
Băn khoăn cơn gió lộng sóng khơi, đáy nước biếc ù ù hồn dũng sĩ.

Phận cần lao đà cam dạ tử tuy;
Lệ huân thưởng chẳng đợi ngày ẩm chí.

Tưởng sự thế gian nhường mộng, tiếng trung tẫn thơm tho thế ấy, dẫu u minh nào có thiệt anh hùng;
Cảm tình bộ khúc là thân, nỗi truy tuỳ cay đắng bấy lâu, từng ưu hoạn bỗng chẳng chia phú quý.

Tiếng khánh chiềng đã lọt thấu ngự thần;
Hồi nhạc vịnh lại xích riêng màn suý.

May gặp hội ghi son tạc sắt, nhuần ơn trên mưa móc cũng dồi dào;
Nghĩ đoái người xông tuyết pha sương, quạnh dấu cũ nước mây thương vắng vẻ.

Tôn tuất cho nhờ có điển thường;
Khao thưởng đều thoả chưng phận nghị.

Rầy nhân:
Gặp tiết hoa xuân;
Bày diên hoàng thuỷ.

Linh phách nơi nào cũng tỏ, cứ sinh bình vị thứ để khuyên mời;
Thiện căn sau nọ còn dài, nguyện cái thế công danh cho vẹn vẽ.

Hỡi ơi! Thượng hưởng!


Nguồn: Trần Trung Viên, Văn đàn bảo giám, NXB Văn học, 2004