Hỡi ôi!
Phải căn số ít duyên ít phước, thì không phứt cho rồi;
Uổng thân hình nên vế nên vai, mà mất như vậy đặng!
Giận bấy lão kiền khôn bạc ác, chòng chọc hắn không vì;
Hiềm thay con tạo hoá trớ trêu, mon men ta muốn mắng.

Nhớ linh xưa
Tánh rất thật thà;
Tình nên ngay thẳng.
Ăn chơi ở lở vốn không;
Đôi mách ngồi lê cũng chẳng.
Thảo với cha lành với mẹ, như bát nước ỷ không xao.
Ra cùng xóm ở cùng giềng, ước hột cơm đà chẳng cắn.
Chị hay niềm em hay nở, ai mà chẳng dấu chẳng yêu;
Ăn bữa trước lo bữa sau, mẹ đà khỏi dò khỏi dặn.
Tai quái bải buôi trối kệ, khôn lanh chẳng quá thật thà;
Lẳng lơ thừa thiếu mặc ai, khéo léo không bằng ngay thẳng;
Khi nào biết làm giọng ảnh, giọng e mà dức tớ, có giận thì la cái giống nọ lộn rồng;
Đời nào hay cầm cái roi cái vọt mà đánh em, có giận thì mắng cái thằng sao nó rắn.
Thấy con đẻ cha mừng đã hết lớn, mừng thì mừng mà dạ hãy băng sương;
Nghe con rên mẹ sợ một điếng hồn, sợ thì sợ chạy trời sao khỏi nắng.

Ôi!
Nước chảy hoa trôi;
Sao dời nguyệt lặn.
Nghiệp trăm năm từ ấy mà thôi;
Vàng ngàn lạng dễ mà cho đặng.
Nhớ tới tiếng con cười lời con thốt, càng thêm chua thêm xót đòi cơn;
Nhớ đến cách con đứng dáng con ngồi, luống để nhớ để thương từ chặng.
Đường ra ngõ vào còn đó, con đi đâu cho rêu cỏ mọc xanh;
Thúng may rổ vá còn đây, con đi đâu cho mốc meo đóng trắng.
Chưa có dâu nhờ một chút con;
Còn chàng rể, kể cho cái thẵng.
Dần dàn kể được bao lâu;
Giáp lại liền năm năm chẵn.
Có con biết không con cũng biết, đĩa muối dưa tạm đặt lưng vơi;
Sống cho khôn thác cũng cho khôn, tình sông biển dễ từ lạt mặn...


Người con gái đầu lòng là Bùi Thị Xiêm mất, Bùi làm bài văn tế này.

Nguồn: Văn học Việt Nam nơi miền đất mới, Nguyễn Quyết Thắng, NXB Văn học, 2009