吊鵑

惆悵東皇去未歸,
哀啼夜夜血沾衣。
此心已不問生死,
當日何須論是非。
苦節暗疑精衛石,
清風長對首陽薇。
吞聲驚起為君泣,
墻外紛紛蜂蝶飛。

 

Điệu quyên

Trù trướng đông hoàng khứ vị quy,
Ai đề dạ dạ huyết triêm y.
Thử tâm dĩ bất vấn sinh tử,
Đương nhật hà tu luận thị phi.
Khổ tiết ám nghi Tinh Vệ thạch,
Thanh phong trường đối Thú Dương vi.
Thôn thanh kinh khởi vị quân khấp,
Tường ngoại phân phân phong điệp phi.

 

Dịch nghĩa

Bùi ngùi về nỗi chúa xuân đi chưa về
Đêm đêm kêu gào thảm thiết máu chảy đầm áo
Lòng này đã không kể gì đến chuyện sống chết
Thì còn cần gì bàn đến lẽ phải trái lúc bầy giờ?
Tiết tháo bền bỉ tưởng chừng như viên đá của chim Tinh Vệ
Phong cách thanh cao sánh mãi với rau vi ở núi Thú Dương
Giật mình tỉnh dậy vì ngươi mà khóc nghẹn ngào
Đã thấy ở ngoài tường ong bướm dang bay rối rả


Rút từ Quế Sơn thi tập (A.469).

Nguồn: Trần Văn Nhĩ, Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến, NXB Văn Nghệ, 2005

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đỗ Đình Tuân

Buồn nhớ đông hoàng thảm thiết thay
Đêm đêm khóc máu lệ tuôn đầy
Lòng này đâu sá thân sinh tử
Lúc ấy bàn chi sự dở hay
Hòn đá chim Tinh bền chí rắn
Rau vi núi Thú rõ lòng ngay
Giật mình tỉnh giấc vì ai khóc
Ong bướm ngoài tường rối rả bay

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đất Văn Lang

Buồn ngóng nàng xuân trở lại không
Đêm đêm khóc thảm máu dầm lông
Khi mà chẳng thiết tồn vong nữa
Thì có còn màng phải trái không
Hòn đá bà Oa bày chí lớn
Rau vi núi Thú tỏ hồn trong
Nghẹn lòng tỉnh giấc vì quyên khóc
Rối rả ngoài tường lũ bướm ong

Đất Văn Lang
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời