Bình luận nhanh 6

NGUYỄN CÔNG TUẤN30/11/2025 09:16
Đàn vẹt bãi Ngô qua đó đậu, Nay truyền Anh Vũ ở bên sông. Chim bay núi Lũng sang tây lượn. Cây biếc hương thơm thoảng ngát đồng. Khói toả lan hoa , hương gió nổi, Bờ liền đào nở , sóng mênh mông. Đi đày…
Minh Chu18/01/2022 18:02
Châu Anh Vũ. Vàng anh qua lại sông Ngô bến, Bãi nổi thành Châu Anh Vũ tên. Anh vũ bay tây qua núi Lũng, Cồn thơm cây cối lá xanh rờn. Khói lên gió lá hương lan tỏa, Bờ tiếp hoa đào sóng gấm lan. Khách…
Hung Trandang07/06/2021 04:48
BÃI ANH VŨ LÝ BẠCH Chim anh vũ xưa đến sông Ngô Bãi sông từ ấy đã mang tên Anh vũ về Tây bãi không quên Hoa cỏ từ ấy khắp miền vẫn xanh. Hoa cỏ xanh hương lan theo gió Nhấp nhô sóng gấm đào bên sông Người…
Hung Trandang27/05/2021 02:02
BÃI ANH VŨ . Lý Bạch Anh vu đáp bãi sông NGÔ Từ ấy tới giờ bãi vẫn mang danh Anh vũ đã về LŨNG xanh Cỏ thơm ,cây bãi vẫn mừng bóng chim Hương lan theo gió dịu êm Sóng sông nô rỡn ngày đêm cùng đào Đi…
Nguyễn Công Tuấn03/11/2018 08:42
BÃI ANH VŨ Trên bãi sông Ngô anh vũ đậu, Giờ đây chẳng thấy bóng chim đâu. Hay đã bay về qua núi Lũng, Bãi thơm cây trái mướt một màu. Hương lan theo gió ngát mơn man, Vẫy gọi đào hoa ánh ngập tràn. Đi…
Nguyễn Công Tuấn29/04/2018 08:17
BÃI ANH VŨ (dịch giả : Công Tuấn) Trên bãi sông Ngô anh vũ đậu, Giờ đây chẳng thấy bóng chim đâu. Hay đã bay về qua núi Lũng, Bãi thơm cây trái mướt một màu. Hương lan theo gió ngát mơn man, Vẫy gọi đào…

鸚鵡洲

鸚鵡來過吳江水,
江上洲傳鸚鵡名。
鸚鵡西飛隴山去,
芳洲之樹何青青。
煙開蘭葉香風暖,
岸夾桃花錦浪生。
遷客此時徒極目,
長洲孤月向誰明?

 

Anh Vũ châu

Anh vũ lai quá Ngô giang thuỷ,
Giang thượng châu truyền Anh Vũ danh.
Anh vũ tây phi Lũng sơn khứ,
Phương châu chi thụ hà thanh thanh.
Yên khai lan diệp hương phong noãn,
Ngạn giáp đào hoa cẩm lãng sinh.
Thiên khách thử thời đồ cực mục,
Trường châu cô nguyệt hướng thuỳ minh?

 

Dịch nghĩa

Chim anh vũ xưa bay đến sông Ngô,
Bãi trên sông mới truyền lại tên Anh Vũ.
Chim anh vũ đã bay về tây qua núi Lũng,
Bãi thơm cây xanh biếc làm sao!
Khói toả ra từ lá cây lan làm gió thơm nổi dậy,
Bờ liền với hoa đào, sóng gấm sinh.
Lúc ấy kẻ đi đày này trông hoài cõi xa,
Trên bãi dài mảnh trăng cô đơn còn soi sáng cho ai?


Bài thơ này được cho là sáng tác vào năm Thượng Nguyên thứ nhất (760) đời Đường Túc Tông. Mùa xuân năm ấy, sau khi được ân xá khỏi án lưu đày Dạ Lang và trải qua một mùa đông ngao du ở Ba Lăng, Lý Bạch trở lại Giang Hạ. Trong thời gian thăm cảnh, gặp gỡ bạn bè tại đây, ông đã làm bài thơ này. Anh Vũ châu vốn là một bãi đất giữa sông Trường Giang, ở phía tây nam Vũ Xương. Địa danh này gắn với Nễ Hành, một danh sĩ cuối đời Đông Hán nổi tiếng tài cao nhưng tính tình ngạo nghễ. Trong một buổi tiệc do Hoàng Xạ tổ chức, Nễ Hành đã ứng tác bài Anh vũ phú, khiến bãi sông về sau mang tên Anh Vũ. Nễ Hành nổi tiếng tài hoa và ngạo nghễ, vì không được những người cầm quyền dung nạp, ông bị đưa từ nơi này sang nơi khác rồi cuối cùng bị Hoàng Tổ sát hại. Tuy tên Nễ Hành không xuất hiện trực tiếp, hình tượng chim anh vũ trong bài ngầm gợi đến ông.

Bốn câu đầu nhiều lần nhắc đến chim anh vũ nhưng không đơn thuần kể chuyện một con chim từng bay qua. Hình tượng anh vũ vừa liên quan đến nguồn gốc tên bãi, vừa kín đáo tượng trưng cho Nễ Hành. Chim đã bay về phía núi Lũng, người xưa cũng không còn, chỉ có cây cỏ trên bãi vẫn xanh tươi. Qua sự đối lập giữa con người hữu hạn và cảnh vật trường tồn, nhà thơ bày tỏ niềm thương tiếc đối với một tài năng có số phận bất hạnh. Hai câu tiếp theo vẽ ra cảnh xuân rực rỡ trên bãi Anh Vũ: sương khói tan dần, lá lan toả hương trong gió ấm, hoa đào hai bờ nhuộm sóng nước thành gấm. Tuy nhiên, cảnh vật càng tươi sáng thì nỗi cô đơn trong lòng nhà thơ càng nổi bật. Lý Bạch tự nhận mình là một “thiên khách” (người từng bị lưu đày) và nhìn thấy trong số phận Nễ Hành hình bóng của chính mình: có tài năng, có hoài bão nhưng gặp nhiều truân chuyên, không được thời thế dung nạp.

Bài thơ nổi bật ở phép song quan: hình tượng chim anh vũ vừa là chim thực trong tưởng tượng, vừa ngầm chỉ Nễ Hành; tên bãi vừa là cảnh vật hiện tại, vừa khơi dậy một bi kịch quá khứ. Bài thơ chuyển từ hoài cổ sang tả cảnh rồi trở về nỗi niềm hiện tại, dùng cảnh xuân tươi đẹp để làm nổi bật tâm trạng cô độc. Việc lặp lại các từ “anh vũ”, “giang”, “châu” tạo nên âm hưởng xoáy vòng, liền mạch, câu hỏi kết thúc bỏ ngỏ khiến nỗi cảm thương càng trở nên sâu xa. Tuy được xếp vào thể thất ngôn luật thi, bài có một số chỗ không hoàn toàn tuân theo khuôn luật nghiêm ngặt về sau, nên thường được gọi là thất luật biến thể.

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 3 trang (24 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Xưa bay Anh vũ đến sông Ngô,
Anh Vũ mới truyền tên đến giờ.
Anh vũ bay về Tây núi Lũng,
Bãi thơm cây cỏ biếc xanh mờ.
Hương lan khói toả thơm làn gió,
Đào thắm liền bờ sóng vượt bờ.
Khách bị đày xa hoài ngóng đợi,
Bãi dài trăng sáng gợi bơ vơ.


☆☆☆☆☆ Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Đất Văn Lang

Anh vũ về sông Ngô dựng tổ
Nên cồn Anh Vũ được thơm danh
Chim về núi Lũng xa hun hút
Cỏ mọc cồn thơm biếc ngút ngàn
Hơi khói chồi lan hương gió quyện
Hoa đào mép bãi sóng sông lan
Lưu khách buồn chân nhìn hút mắt
Vì ai trăng toả bãi sông tràn.


Đất Văn Lang
☆☆☆☆☆ Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nhất Nguyên

Anh Vũ đến sông Ngô ở lại
Trên bãi sông truyền cái tên này
Anh Vũ nay đã về Tây
Bãi thơm cây cối xanh dầy cỏ non
Cây lan lá khói hương toả ấm
Bờ đào hoa sóng gấm gợn lay
Nơi xa nay khách lưu đày
Chiếc trăng soi sáng bãi này cùng ai?


Nhất Nguyên
☆☆☆☆☆ Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Thiên Diện

Đất lành có chim vẹt (Anh Vũ Châu):
Khi vẹt vươn cánh sông Ngô hiểu,
Sông đất này nghe danh vẹt rồi.
Khi vẹt về Tây phóng qua Lũng,
Cây lành muôn đất luôn luôn xanh.
Cây Lan hương khói thơm sao cưỡng,
Bờ có hoa đào gợn sóng là.
Người khách giờ đi đày cõi lạ,
Vầng trăng soi đất chiếu cho ai?


☆☆☆☆☆ Chưa có đánh giá nào
Trả lời

Trang trong tổng số 3 trang (24 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3]