Một cơn gió táp mưa sa,
Non sông nổi giận, cỏ hoa đeo sầu.
Gió mưa nghe vẳng bên lầu,
Tưởng hồn nghĩa sĩ ở đâu ngang trời.
Than ôi cũng một kiếp người,
Một lòng yêu nước thương nòi xót xa.
Non sông Hồng Lạc một nhà,
Nhớ người ta phải hương hoa cúng giàng.
Mực hoà máu lệ một chương,
Khóc trang nghĩa dũng nêu gương muôn đời.
Nhớ xưa liệt sĩ bốn người,
Ở trong ban lính đóng nơi Hà Thành.
Đòi phen trận mạc tập tành,
Thấy người xe ngựa, tủi mình non sông.
“Nay tôi có chước lập công,
Bên trong tôi đã cảm thông rối bời.
Bỏ thuốc độc nó trúng rồi,
Thẳng lên kho súng giết người lính canh.
Lấy được súng cướp lấy thành,
Ba toà đánh chiếm chia binh ba đường.
Đình Bảng rền tiếng sấm vang,
Ông Đề xuống chiếm Bắc Giang tỉnh thành.
Sơn, Tuyên, Thái, Lạng, Nghệ, Thanh,
Bốn phương hưởng ứng dẹp bình như chơi.”
Ông Bình nói chửa dứt lời,
Hai bên đứng dậy mọi người vỗ tay.
Tức thì ba đạo chia ngay,
Hữu kia Nguyễn Cốc, tả này Đặng Nhân.
Ông Bình làm chủ trong quân,
Ông Nga làm phó, ba quân cứ lời.
Cùng nhau gắn bó mới rồi,
Lễ bày sáp huyết định lời ước minh.
Ngày hai mươi chín rõ rành,
Nghe nó trúng độc thì mình động ngay.
Lời sao không cánh mà bay,
Cơ mưu nó biết hàng ngày nó trông.
Tối hăm chín, bảy điểm chung,
Nó ăn phải độc chưa xong nửa phần.
Vô tình phải đứa bất nhân,
Đem tin báo với Pháp quân tức thì.
Thôi thôi còn biết cách gì,
Hùm thiêng đến lúc sa cơ cũng hèn.
Pháp doanh nghe động tiếng kèn,
Trong thành bốn mặt bổ liền quân vây.
Phải chi là chuyện chẳng may,
Chậm cho mươi phút việc này hẳn xong.
Dù thất bại vẫn anh hùng,
Tấm lòng đối với non sông thẹn gì.
Gan vàng dạ sắt tri tri,
Ông Bình đến chết coi thì như không.
Vẫn cười vẫn nói ung dung,
Bên đường trông thấy ai không sụt sùi.
Ông Nga bị bắt tới nơi,
Pháp quan dò hỏi mấy lời sâu nông.
Rằng anh là kẻ có công,
Nhà nước hậu đãi cũng không bạc gì.
Sao anh mưu phản làm chi,
Những ai đồng đảng khai thì tha ngay.
Nghe lời nghiến lợi cau mày,
Mắng rằng: “Pháp tặc nói hay làm gì.
Một năm sưu thuế ba kỳ,
Mấy nghìn vạn ức mày thì nhớ không.
Tao ăn một tháng mười đồng,
Cũng do công sức người trong ba kỳ.
Cơm thừa canh cặn ra chi,
Thế mà khéo nói, kể gì là ơn.
Lựa Nam nhơn giết Nam nhơn,
Làm cho hết giống, hết dân, tội mày!
Pháp Lan Tây! Pháp Lan Tây!
Chí tao muốn giết thịt mày mới cam.
Chẳng thà làm quỷ nước Nam,
Còn hơn nô lệ làm quan cho mày!
Rồi đây được chết là may,
Còn bao người khác sau này giống tao.”
Gọi to một tiếng “đồng bào!”
Hồn thiêng theo trận gió ào lên mây.
Ối thương thay! Ối thương thay!
Kể sao xiết tội giết lây bao người.
Văn minh cũng thật lạ đời,
Đàn bà giết cả đến người hàng cơm.
Đời mình coi nhẹ rác rơm,
Trăm nghìn phó một mũi gươm cho rồi.
Khen cho liệt sĩ bốn người,
Một lòng vì nước, muôn đời tiếng thơm.
Tát tai đá đít cũng cam,
Những phường giá áo túi cơm sá gì.
Vẫn còn mở miệng thị phi,
Biết gì nòi giống, biết gì nước non!
Việc thiên hạ há cỏn con,
Người nay làm hỏng vẫn còn người sau.
Bền gan chẳng ngại dài lâu,
Núi cao cũng lở, sông sâu cũng đầy.
Rồi ra bao kẻ sau này,
Quyết lòng báo phục ra tay anh hùng.
Xứng danh nòi giống Tiên Rồng,
Rửa hờn nghĩa liệt đền công nước nhà.


Thay vì hai câu cuối, có bản chép:
Một mai bia đá tượng đồng,
Rửa hờn nghĩa liệt đền công nước nhà.
Kìa xem lịch sử Trung Hoa,
Hán Dương một trận đảo qua mấy lần.
Ầm ầm các tỉnh nghe tin,
Kéo cờ độc lập dựng nên Cộng hoà.
Anh em binh lính nhà ta,
Ai mà có bụng ắt là xong ngay.
Bởi vì súng đạn ở tay,
Giang sơn kéo lại một ngày như chơi.
Quả nay cơ hội đến nơi,
Bắc Nam đôi ngả mấy lời gởi trao.
Cờ sắc đỏ vẽ năm sao,
Giang sơn rõ mặt, đồng bào vỗ tay.
Bài vè khuyết danh này làm năm 1912, nói về vụ đầu độc quan binh Pháp ở Hà Nội năm 1908, có lẽ do đảng viên của Hoàng Hoa Thám chủ mưu. Việc thất bại, Bếp Hiên và sáu người nữa trong cơ lính nhà bếp bị xử tử. Nhưng bài thơ chỉ ghi bốn liệt sĩ: Nguyễn Chí Bình (Đội Bình), Nguyễn Văn Cốc (Đội Cốc), Đặng Đình Nhân (Đội Nhân), Nguyễn Đức A (Cai Nga), đều ở trong đội lính khố đỏ, và bà hàng cơm bị giết lây.

Nguồn:
1. Giang Quân, Thăng Long Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ (in lần thứ 2), NXB Hà Nội, 2002
2. Nguyễn Hiến Lê, Đông Kinh nghĩa thục - Chương 11, NXB Văn hoá Thông tin, 2002