羅城竹塢

北門鎖鑰險山河,
塢竹重將繞大羅。
劈立萬竿凌雨雪,
籬包四顧密條柯。
斜穿榆塞風塵帖,
影入桃門蔭疵多。
最可愛焉惟直節,
叢笙笑殺彼滕籮。

 

La Thành trúc ổ

Bắc Môn toả thược hiểm sơn hà,
Ổ trúc trùng tương nhiễu Đại La.
Bính lập vạn can lăng vũ tuyết,
Ly bao tứ cố mật điều kha.
Tà xuyên du tái phong trần thiếp,
Ảnh nhập đào môn ấm tỳ đa.
Tối khả ái yên duy trực tiết,
Tùng sinh tiếu sát bỉ đằng la.

 

Dịch nghĩa

Cửa Bắc khoá kín, là nơi hiểm yếu giữ gìn non sông,
Luỹ trúc tầng tầng bao quanh thành Đại La.
Hàng vạn cây tre dựng đứng như bức tường đội mưa tuyết,
Hàng rào bao tứ phía dày đặc những cành cây.
Những hàng cây du cắm nghiêng, đồn trại giữ cho đất nước yên ổn,
Bóng luỹ chiếu vào cửa nhà quan, bóng râm che rộng khắp.
Điều đáng yêu nhất là đốt tre rất thẳng,
Cười loài dây leo kia, sống nhờ các bụi rậm.


Nguyên chú: Thành Đại La do Cao Biền đắp từ thời Đường, chu vi chừng 982 trượng lẻ 5 thước, thân thành cao 2 trượng 6 thước, chân thành rộng 2 trượng 5 thước. Vua Lý Thái Tổ từ Hoa Lư dời đô về đây, nhân thành này đắp thêm thành bên ngoài, các đời sau đều theo đó. Thời cuối Lê, vẫn còn trồng rào tre vây bốn mặt, và dựng cổng luỹ. Đến thời Tây Sơn, từ năm Bính Ngọ đến Canh Thân tre bị phạt gần hết. Đến năm Tân Dậu nhổ đến tận nhà dân. Sau trồng tre lại theo thành cũ, nam từ Vạn Xuân đến Đồng Vọng, tây từ Đồng Vọng đến mé Yên Lãng, Yên Quyết đến Thuỵ Chương, giáp đến tận Yên Hoà.

[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]