Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Cổ phong (cổ thể)
Thời kỳ: Hán
12 bài trả lời: 1 bản dịch, 11 thảo luận
1 người thích
Đăng bởi Vanachi vào 31/10/2008 10:24, đã sửa 2 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 02/03/2010 08:13

巫山高

巫山高,
高以大。
淮水深,
深以逝。
我欲東歸,
害梁不為?

我集無高曳,
水何梁湯湯回回。
臨水遠望,
泣下沾衣。
遠道之人心思歸,
謂之何!

 

Vu sơn cao

Vu sơn cao,
Cao dĩ đại.
Hoài thuỷ thâm,
Thâm dĩ thệ.
Ngã dục đông quy,
Hạt lương bất vi?

Ngã tập vô cao duệ,
Thuỷ hà lương sương sương hồi hồi.
Lâm thuỷ viễn vọng,
Khấp há triêm y.
Viễn đạo chi nhân tâm tư quy,
Vị chi hà!


 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 2 trang (12 bài trả lời)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Bản dịch của Điệp luyến hoa

Núi Vu cao,
Cao lại lớn.
Sông Hoài sâu,
Sâu lại xiết.
Muốn sang đông về,
Mà sao chưa đi?

Bị tắc không thuyền chở,
Nước sông cuồn cuộn chảy về xuôi.
Bên bờ xa ngóng,
Ướt áo lệ trào.
Người xa ngàn dặm muốn về mau,
Biết làm sao!

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Về bài Vu sơn cao

Với Vinachi
1- Tài liệu từ các trang web, ngay của Trung quốc, nhiều khi các từ cổ cũng bị sai, sách có độ tin cậy cao hơn. Cao duệ 篙栧, có lý hơn 高曳. Hãy cảnh giác !
2- Ngã dục đông quy,Hại lương bất vi? Ngã tập vô cao duệ,Thuỷ hà lương thang thang hồi hồi. có nghĩa là: Ta muốn sang bờ phía đông, Cầu bị hỏng không qua được.
Tìm sào, tìm mái chèo mà không có, Nước ở dưới cầu cuồn cuộn chảy.
Lương 梁 còn là cái cầu. 攜手上河梁 Huề thủ thướng hà lương (Dắt tay nhau qua cầu)Thơ Lý Lăng tiễn Tô Vũ. Hại lương: cầu bị hỏng.
Chữ 湯湯 đọc 2 âm Sương sương (shang shang)là cuồn cuộn, còn đọc 1 âm Thang (tang)là suối nước nóng, Canh, Thang thuốc. Như vậy nên phiên âm là Sương sương.

Hà Như Trần Thế Hào

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

thảo luận

Chào bác,
Không biết bác tham khảo theo sách nào không ạ. Bài thơ này, chú thích và giải nghĩa cháu đều tham khảo theo một cuốn "Hán thi" xuất bản tại Đài Loan từ năm 1992.

- Chữ "cao duệ" trong đó được chép là 高曳 và chú thích là thông với 篙栧, nghĩa là sào và mái chèo, ở đây ám chỉ thuyền bè.
- Chữ 害 đáng ra phải phiên âm là "hạt", nghĩa là "sao, nào", giống chữ "hà" 何. Trên cháu phiên âm sai thành "hại", nay sửa lại.
- Hai chữ "lương" 梁 trong này đều được chú thích chỉ là từ biểu thanh, không có nghĩa.
- Chữ "tập" 集 được giải nghĩa là dừng lại, lưu lại. (集:止,滯留)
- Chữ 湯湯 đúng là phải phiên âm là "sương sương", nay cháu sửa lại cho đúng.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Vu Sơn cao

詩人的家鄉在淮水下游,他要歸家,必得走水路。“害梁不為?”原來這淮水沒有橋樑!
“我集無高曳,水何湯湯回回” 過河沒有橋,渡水沒有船 。 滿心希望全化作泡影。

Thi nhân đích gia hương tại Hoài thủy hạ du , tha yếu quy gia , tất đắc tẩu thủy lộ .
" Hại lương bất vi ? " Nguyên lai giá Hoài thủy một hữu kiều lương !
" Ngã tập vô cao duệ , thủy hà sương sương hồi hồi " . QUÁ HÀ MỘT HỮU KIỀU ,
ĐỘ THUỶ MỘT HỮU THUYỀN . Mãn tâm hy vọng toàn hóa tác phao ảnh .

汉乐府《巫山高》赏析咀华庐

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Vu Sơn cao

Xin lỗi vì không thể đưa "link" qua được , nếu có thể
xin vào trang dưới đây :

汉乐府《巫山高》赏析咀华庐

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

thảo luận

Xin cảm ơn các bác tiền bối đã cho ý kiến. Có lẽ ở đây có thể có 2 cách hiểu, không biết cách hiểu nào là chính xác. Quả thực cách hiểu trên kia cũng là cháu căn cứ theo sách chứ không tự phát minh ra, vậy nên cũng rất phân vân. Cháu sẽ bổ sung phần chú thích cả hai cách hiểu đã thảo luận.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Về Vu sơn cao

Gửi Vanachi:
Tôi không có tài liệu để tra cứu như bạn đã có.
Các hiểu biết chỉ dựa vào văn cảnh và kinh nghiệm thôi.
Các ý kiến của ta đều không ngược chiều nhau, mà chỉ tịnh tiến.
Chuyện chữ nghĩa từ xưa làm ta bối rối không phải là ít, xin đừng quá áy náy.
Chúc bạn tiếp tục tiến lên. Thân ái.
Hà Như.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Hán nao ca thập bát khúc

Gửi Vanachi:
Xin xem lại chữ 鐃 , phiên là Não, có được không? mặc dù âm đọc là "náo". Nhưng khó có thể là "Nao" được.
《唐韻》女交切《集韻》《正韻》尼交切《韻會》泥交切,𠀤音呶。《說文》小鉦也。
Còn ta thường nói Thanh la Não bạt.
Não ca: vừa đánh chập choẹ vừa hát.
Thân ái.
Hà Như.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Chào bác,
Quả thực theo Khang Hy mà bác trích ra:
女交切 = nào
尼交切 = 泥交切 = 音呶 = nao
Cháu tra trong Thiều Chửu cũng ghi âm là nao. Từ điển khác cháu chưa tra thử nên không rõ.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Điệp mến.
Quả thật là khó, khi phải phiên âm các chữ từ đời Hán, Đường, trong khi tài liệu của ta lại ít, thiếu có khi lại không chuẩn.
Nhưng từ trước đến nay, nếu chỉ cái chũm choẹ, ta đọc là Não, là một thực tế (hoặc Nạo, theo thổ ngữ).
Từ 鐃 nghĩa gốc, là cái bát to, Theo TĐ Thiều Chửu là Nao.
Trong Khang Hy 《唐韻》女交切 nghĩa là: Đường vận, nữ giao thiết, chỉ rằng, âm đọc được xác định bởi Nữ + Giao (có dấu ngã ở Nữ) thành Não, chứ không phải là Nào.
《集韻》《正韻》尼交切《韻會》 Tập vận, Chính vận chữ được đọc bởi Ni + Giao (không dấu) thành Nao.
Nếu ta đọc là Não là đọc theo Đường vận.
Xin lưu ý, âm Hán Việt, hầu hết là theo Đường vận và Quảng vận,
nhưng trong trường hợp này là theo Đường vận.
Ngoài ra, ta còn có Não bạt, Não cổ.
Tương tự, từ 硇 tuy người TQ đọc là Náo (pingyin), giống 鐃 nhưng trong Khang Hy TĐ:
《玉篇》女交切 : Ngọc thiên, Nữ giao thiết, giống như trên, ta phiên là Não.
硇砂 là Não sa.

Thân ái.
Hà Như Trần Thế Hào.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời

Trang trong tổng số 2 trang (12 bài trả lời)
[1] [2] ›Trang sau »Trang cuối