上邪

上邪!
我欲與君相知,
長命無絕衰。
山無陵,
江水為竭,
冬雷震震,
夏雨雪,
天地合,
乃敢與君絕。

 

Thượng da

Thượng da,
Ngã dục dữ quân tương tri,
Trường mệnh vô tuyệt suy.
Sơn vô lăng,
Giang thuỷ vị kiệt,
Đông lôi chấn chấn,
Hạ vũ tuyết,
Thiên địa hợp,
Nãi cảm dữ quân tuyệt.

 

Dịch nghĩa

Hỡi trời,
Ta nguyện được cùng chàng tương tri (yêu nhau),
Duyên tình mãi mãi không dứt.
(Tới khi nào) núi không còn đất,
Nước sông chưa cạn,
Mùa đông sấm chớp,
Mùa hè tuyết rơi,
Trời đất hợp làm một,
Mới dám cùng chàng chia lìa.


 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (4 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Vi Nhất Tiếu

Bao giờ
sông cạn núi mòn
Mùa đông sấm dậy hạ còn tuyết thôi
Bao giờ
trời đất hợp rồi
Thì ta mới chịu cùng người biệt ly


Bài dịch thiếu đoạn đầu.
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Điệp luyến hoa

Hỡi trời,
Ta nguyện với chàng tương tri,
Mãi mãi chẳng phân ly.
Núi chưa mòn,
Sông chưa cạn kiệt,
Đông vang sấm dậy,
Hè mưa tuyết,
Trời đất hợp,
Mới cùng chàng ly biệt.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Về tên bài thơ

Tên bài theo mình dịch là "Thượng da" mới đúng. “天邪” Chữ 邪 ở đây phiên âm chữ Hán đọc là Yé chứ không phải là Xié(Tà). 邪 hay còn là 啊. 上邪hay 上啊: Trời ơi! 上:指天。上邪:犹言“天啊”。这句是指天为誓。

Tri giao quái ngã sầu đa mộng
Thiên hạ hà nhân bất mộng trung?
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Mai Tiến

Hỡi trời!
Ta nguyện cùng chàng tương tri
Vạn kiếp chẳng lìa xa
Núi chưa mòn
Sông chưa cạn
Sấm chớp trời Đông
Mưa tuyết giữa hạ
Thiên địa hợp nhất
Mới dám cùng chàng nói lời biệt ly.

11.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời