(mồng mười tháng tám)

Kiếp kim cổ tài tình là bận,
Hồn văn chương vơ vẩn non sông.
Xót thay nước đục bụi trong,
Nghìn thu biết ngỏ tấm lòng cùng ai!
Trộm nhớ thuở anh tài giáng thế,
Cõi Tiên Điền rót khí linh kỳ.
Gặp cơn Lê thị suy vi,
Kim thành muốn lở, thang trì muốn vơi.
Mắt chí sĩ trông đời ngao ngán,
Muốn ra tay tát cạn bể đông.
Trách người chi bấy hoá công,
Lỡ thời để khách anh hùng bó tay.
Miền Bắc tái rồng bay mỏi cánh,
Đỉnh Hồng sơn hạc lánh xa xa.
Rắp toan tìm thú cỏ hoa,
Tang bồng gác mái yên hà cùng cao.
Trời Đông Phố ào ào gió động,
Hội tao phùng đái ủng tân quân.
Giang hồ lang miếu một thân,
Dật dân bỗng hoá hàng thần, lạ thay!
Há chẳng biết cao bay, xa chạy,
Cái công danh là bẫy trên đời.
Song le con tạo trêu ngươi,
Buộc nhau chỉ một chữ thời mà đau.
Bắt đày đoạ cất đầu không nổi,
Bắt đến điều mỏi gối chồn chân.
"Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.
"
Xuất với xử bên nào cũng khó,
Nhục hay vinh ở đó mà ra.
Cát lầm ngọc trắng cũng là,
Càng kiên trinh lắm, càng ma chiết nhiều.
Song chẳng lẽ cũng liều nhắm mắt,
Cũng dày mày dạn mặt cho xong.
Cầm bằng như kiếp má hồng,
Hơn nhau chỉ một tấm lòng chính chuyên.
Dạ trinh bạch đã nguyền sắt đá,
Giả hình hài tiếu mạ mà chi?
Dở dang thay cái tu mi,
Cực trăm nghìn nỗi trong khi tòng quyền!
Bước đã lỡ mượn thuyền sao nổi,
Nợ còn nhiều định chối không xong.
Hỏi ai gạn đục khơi trong,
Đục trong trong đục mà lòng trơ trơ,
Đồng ly thử gió mờ bụi tối,
Nỗi hương quan ruột rối như vò.
Lâm ly ngọc bút song hồ,
Văn chương một áng điểm tô tuyệt vời.
Vì mặt trắng thương người mệnh bạc,
Khúc đoạn trường tả bước lưu ly.
Lờ mờ nước chảy mây đi,
Tri âm biết có Chung Kỳ là ai?
Dòng thệ thuỷ núi mài sông lở,
Tấm lòng son gột rửa bao phai.
Bận mình chi bấy chữ tài,
Túi cơm giá áo như ai cũng nhàn!
Muốn động đến cửu toàn linh thính,
Hỏi bao giờ tài mệnh không ghen.
Mệnh sao hay bỡn hay chen?
Tài sao vùng vẫy những toan chọc trời?
Lòng bằng điếu mấy lời giãi tỏ,
Đỉnh trầm bay ngọn gió hiu hiu.
Non sông man mác mọi chiều,
Khí thiêng phảng phất ít nhiều đâu đây.


Tháng 8 năm Đinh Mão (1927)

Bài này được đăng trên "Nam phong tạp chí", số 120, tháng 8-1927. Tiên Điền tức Nguyễn Du, tác giả "Truyện Kiều", quê ở làng Tiên Điền, thuộc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Nguồn: Việt Nam thi văn hợp tuyển, Dương Quảng Hàm, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Hà Nội, 1951