Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Bắc Tống, Liêu
Đăng bởi tôn tiền tử vào 10/11/2018 12:14

東坡八首其四

種稻清明前,
樂事我能數。
毛空暗春澤,
針水間好語。
分秧及夏初,
漸喜風葉舉。
月明看露上,
一一珠垂縷。
秋來霜穗重,
顛倒相撐拄。
但聞畦隴間,
蚱蜢如風雨。
新春便入甑,
玉粒照筐筥。
我久食官仓,
红腐等泥土。
行當知此味,
口腹語已許。

 

Đông Pha bát thủ kỳ 4

Chủng đạo thanh minh tiền,
Lạc sự ngã năng sổ.
Mao không ám xuân trạch,
Châm thuỷ văn hảo ngữ.
Phân ương cập sơ hạ,
Tiệm hỉ phong diệp cử.
Nguyệt minh khán lộ thượng,
Nhất nhất châu thuỳ lũ.
Thu lai sương huệ trọng,
Điên đảo tương xanh trụ.
Đản văn huề lũng gian,
Trách mãnh như phong vũ.
Tân xuân tiện nhập tắng,
Ngọc diệp chiếu không lữ.
Ngã cửu thực quan thương,
Hồng hủ đẳng nê thổ.
Hành đương tri thử vị,
Khẩu phúc ngữ dĩ hứa.

 

Dịch nghĩa

Trồng lúa trước thanh minh,
Có thể tính được nỗi vui sướng của mình.
Trời mưa bay như lông bay, phủ mờ ao hồ mùa xuân,
Nghe những tiếng hớn hở nói lúa đã chích nước.
Rải mạ đợi mùa hè,
Mừng dấn thấy gió đã lay ngọn.
Trăng sáng rọi trên sương,
Như từng hạt ngọc kết vạt áo rũ.
Mùa thu, sương nặng trên bông lúa,
Cọng lúa nghiêng ngửa giữ nhau đứng vững.
Nghe trên các bờ ruộng,
Cào cào kêu như mưa như gió.
Xuân mới, chợt đi vào trong chậu,
Hạt ngọc lấp lánh trong thúng mủng.
Từ lâu, ta ăn gạo thóc quan,
Trái hồng thúi coi như đất bùn.
Đâu biết được mùi vị này,
Đã chịu vừa miệng vừa bụng ta lắm rồi.


Hoàng Châu, năm Nguyên Phong thứ 5 (1082) đời Tống Thần Tông

Bản dịch nghĩa trong Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng (Tuệ Sỹ, NXB Ca Dao, 1973).