Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Bắc Tống, Liêu
Đăng bởi tôn tiền tử vào 10/11/2018 12:11

東坡八首其三

自昔有微泉,
來從遠嶺背。
穿城過聚落,
流惡壯蓬艾。
去為柯氏陂,
十畝魚蝦會。
歲旱泉已竭,
枯萍粘破塊。
昨夜南山雲,
雨到一犁外。
泫然尋故瀆,
知我理荒薈。
泥芹有宿根,
一寸嗟獨在。
雪芽何時動,
春鳩行可膾。

 

Đông Pha bát thủ kỳ 3

Tự tích hữu vi tuyền,
Lai tùng viễn lĩnh bối.
Xuyên thành quá tụ lạc,
Lưu ác tráng bồng ngải.
Khứ vi Kha thị pha,
Thập mẫu ngư hà hội.
Tuế hạn tuyền dĩ kiệt,
Khô bình niêm phá khối.
Tạc dạ nam sơn vân,
Vũ đáo nhất lê ngoại.
Huyễn nhiên tầm cố độc,
Tri ngã lý hoang hội.
Nê cần hữu túc căn,
Nhất thốn ta độc tại.
Tuyết nha hà thời động,
Xuân cưu hành khả quái.

 

Dịch nghĩa

Chỗ này trước kia có con suối nhỏ,
Từ sau dãy núi xa xôi chảy đến.
Len lỏi qua thị thành, qua các làng mạc,
Cuốn đi những thứ hại, làm tươi tốt lau sậy.
Rồi chảy qua bờ ruộng nhà họ Kha,
Cả mười mẫu đầy những tôm và cá.
Đến năm nay, trời hạn, suối cũng cạn,
Bèo khô dính bám vào những mảng đất lở.
Đêm hôm qua, mây kéo trên núi nam,
Mưa dâng chừng ngập lưỡi cày.
Mênh mông chảy theo con lạch cũ,
Mới biết ta đã dọn sạch hết cỏ dại.
Rau cần, mọc chen dưới bùn,
Còn lại chút rễ, vắn chừng một tấc.
Chồi trắng như tuyết bao giờ động,
Để đến mùa xuân, bắt chim cưu mà ăn thịt thái.


Hoàng Châu, năm Nguyên Phong thứ 5 (1082) đời Tống Thần Tông

Bản dịch nghĩa trong Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng (Tuệ Sỹ, NXB Ca Dao, 1973).