Chưa có đánh giá nào
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn bát cú
Thời kỳ: Trần
2 bài trả lời: 2 bản dịch
2 người thích

Đăng bởi Vanachi vào 13/09/2008 09:16

支陵洞

千里巡邊殷鼓鼙,
藩城蠻寨一醯雞。
澗南澗北紅旗轉,
軍後軍前青兕啼。
漊瀨谷深於井底,
支陵關險與天齊。
臨風跋馬高回首,
禁闕岧嶢雲氣西。

 

Chi Lăng động

Thiên lý tuần biên ẩn cổ bề,
Phiên thành man trại nhất ê kê.
Giản nam giản bắc hồng kỳ chuyển,
Quân hậu quân tiền thanh huỷ đề.
Lâu Lại cốc thâm ư tỉnh để,
Chi Lăng quan hiểm dữ thiên tề.
Lâu phong bạt mã cao hồi thủ,
Cấm khuyết thiều nghiêu vân khí tê.

 

Dịch nghĩa

Đi nghìn dặm tuần tra biên giới, trống trận vang ầm,
Thành Phiên, trại Mán bé bằng con sâu.
Phía Nam, phía bắc giòng suối, cờ hồng lay động,
Đằng trước, đằng sau đội quân, trâu rừng rống vang.
Hang Lâu Lại sâu hơn đáy giếng,
Ải Chi Lăng hiểm bằng lên trời.
Trước gió ghì cương ngựa, lên cao ngoảnh đầu nhìn,
Cửa khuyết cao chót vót ở tầng mây phía tây.


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB Khoa học xã hội, 1978

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đinh Văn Chấp

Nổi trống tuần biên bước dặm ngàn,
Xem tày trùng nhỏ khóm Phiên, Man.
Quạt cờ đồng đội che đầu núi,
Gầm thét ba quân kéo một đoàn.
Lâu Lại hang sâu dò khó tới,
Chi Lăng cửa hiểm vượt khôn toan.
Ngựa dong trước gió nghiêng đầu ngắm,
Cung khuyết mây đài lúc rợp tan.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Nghìn dặm tuần tra ầm trống vang,
Bằng sâu xem bé trại Phiên Man.
Bắc Nam giòng suối cờ lay động,
Sau trước đội quân trâu rống vang.
Lâu Lại hang sâu hơn đáy giếng,
Chi Lăng ải hiểm tựa lên ngàn.
Ghì cương trước gió đầu quay lại,
Cửa khuyết vót cao tây chín tầng.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời