24.50
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Ngũ ngôn cổ phong
Thời kỳ: Trần
3 bài trả lời: 3 bản dịch
Từ khoá: Kính Chủ (4)
Đăng bởi 856828 vào 20/05/2008 02:49, đã sửa 5 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 08/04/2009 09:46

行役簦家山

行役簦家山,
僑首萬里天。
杜鵬南溟外,
賓日東岳前。
安阜天一握,
象頭仞九千。
層層紫宵雲,
會訪安啟仙。
洶洶白藤濤,
想象吳王船。
憶昔重興帝,
刻轉坤斡榦。
海浦千艨艟,
陜門萬旌旃。
返掌奠鰲极,
挽河洗腥膻。
至今四海民,
長說擒胡年。

 

Hành dịch đăng gia sơn

Hành dịch đăng gia sơn,
Kiều thủ vạn thiên.
Đổ bằng nam minh ngoại,
Tân nhật đông nhạc tiền.
Yên Phụ thiên nhất ác,
Tượng Đầu nhận cửu thiên.
Tằng tằng Tử Tiêu vân,
Hội phỏng An Kỳ tiên.
Húng húng Bạch Đằng đào,
Tưởng tượng Ngô Vương thuyền.
Ức tích Trùng Hưng Đế,
Khắc chuyển khôn oát kiền.
Hải phố thiên mông đồng,
Hiệp môn vạn tinh chiên.
Phản chưởng điện ngao cực,
Vãn Hà tẩy tinh chiên.
Chí kim tứ hải dân,
Trường thuyết cầm Hồ niên.

 

Dịch nghĩa

Nhân đi việc quan, lên chơi núi quê nhà,
Ngẩng đầu nhìn trời cao muôn dặm.
Thấy chim bằng ngoài biển nam,
Ðón mặt trời mọc trước dãy núi phía đông.
Núi Yên Phụ chỉ cách trời một nắm tay,
Núi Tượng Ðầu cao chín nghìn mẫu.
Mây lớp lớp trên đỉnh Tử Tiêu,
Nhân dịp hỏi thăm tiên An Kỳ.
Sóng Bạch Ðằng cuồn cuộn,
Tưởng tượng tới thuyền của Ngô Vương.
Nhớ vua Trùng Hưng xưa,
Khoảng khắc làm chuyển đất xoay trời.
Hàng nghìn chiến thuyền ngoài cửa biển,
Muôn lá cờ lệnh trên cửa ải.
Trở bàn tay đặt cõi bờ vào thế yên ổn,
Kéo nước sông Ngân rửa sạch vết tanh hôi.
Ðến nay nhân dân cả nước,
Nhắc mãi năm bắt giặc Hồ.


Lạc khoản: “Trần triều nhất bách tứ thập tứ tự cửu nguyệt ngũ nhật. Nhập nội hữu nạp ngôn Hiệp Thạch Phạm Sư Mạnh phụng chiếu giản duyệt ngũ lộ chi binh, đăng Thạch Môn Sơn tác. Dương Nham Phạm Sư Mạnh thư.” 陳朝一佰肆拾肆九月五日。入內右納言硤石范師孟奉詔揀閱五路之兵,登石門山作。陽岩范師孟書。 (Triều nhà Trần năm thứ 144, tháng 9, ngày 5, chức Nhập nội Hữu nạp ngôn là Hiệp Thạch Phạm Sư Mạnh vâng lệnh nhà vua đi tuyển duyệt binh lính năm lộ, lên núi Thạch Môn, làm bài thơ này. Dương Nham Phạm Sư Mạnh viết.)

Bài thơ này viết năm 1368, vốn không có đầu bài, hiện còn bản khắc đá trên vách hang núi Kính Chủ thuộc xã Phạm Mệnh, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Có lẽ dựa vào những hàng chữ lạc khoản, khắc dưới bài thơ, nên các bản Toàn Việt thi lục đều tự đặt thêm đầu bài. Thí dụ, Toàn Việt thi lục A.1262 ghi đầu đề bài thơ là: Giản ngũ lộ binh đăng Thạch Môn Sơn lưu đề...; ở đây chúng tôi (ND) lấy câu đầu của bài thơ để đặt đầu bài. Có sách còn gọi bài thơ là Đăng Thạch Môn sơn lưu đề (Lưu viết khi lên núi Thạch Môn).

Trong Kiến văn tiểu lục, mục Thiên chương (văn thơ, từ lệnh), Lê Quý Đôn có chép như sau: “Hồi quốc sơ, Phan Phù Tiên chép những bài thơ của vua chúa, công khanh và sứ thần về đời nhà Trần, lại chép những bài ngự chế của Cao Đế, Văn Đế cùng những bài ngâm vịnh của các nho thần về bản triều, thành quyển Việt âm thi tập; Dương Đức Nhan lại chép nối theo những bài không có trong Việt âm thi tập của Phan Phù Tiên làm Tinh tuyển thi tập; Hoàng Đức Lương lại chép nối theo những bài còn thiếu trong hai tập kể trên làm Trích diễm thi tập. Hợp cả ba tập thơ ấy mà xem, thì văn thơ nước Nam có thể tìm được đầy đủ. Nhưng vẫn còn có chỗ bỏ sót, như bài thơ của Phạm Sư Mạnh đề núi Thạch Môn theo cổ thể, nay vẫn còn khắc vào đá, trong sách An Nam chí của người nhà Minh có chép bài thơ này, nhưng bỏ mất một nửa.” (theo Lê Quý Đôn toàn tập, tập II, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977)

Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB Khoa học xã hội, 1978

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Tuấn Nghi

Lên thăm núi Thạch Môn,
Ngẩng trông trời vút cao.
Biển nam chim bằng dậy,
Núi đông mặt trời chào.
Núi Yên Phụ chạm trời,
Tượng Đầu chất ngất cao.
Tử Tiêu mây trùng trùng,
An Kỳ ở chốn nao.
Sóng Bạch Đằng cuồn cuộn,
Ngô Quyền diệt Hoằng Thao.
Nhớ xưa Trùng Hưng đế,
Làm đất chuyển trời chao.
Cửa biển nghìn thuyền đậu,
Non ải vạn cờ đào.
Trở tay định bờ cõi,
Kéo sông rửa tanh hôi.
Nhân dân nay còn kể,
Chuyện thắng Hồ năm nào.

23.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Núi quê hành dịch trèo qua,
Ngửa trông trời thẳm bao la muôn trùng.
Biển Nam chim lớn vẫy vùng,
Non Đông mừng đón vừng hồng ló ra.
Đỉnh Yên phụ trời xa với được,
Ngọn Tượng đầu nhận ước chín nghìn.
Tử tiêu mây bọc liền liền,
Gặp Yên kỳ hỏi lên tiên đường nào?
Bạch Đằng lồng lộng ba đào.
Tưởng thuyền Ngô chúa thét gào năm xưa.
Trùng hưng nhớ đức hai vua.
Xoay vần trời đất có thừa tài hoa.
Ngàn thuyền Hải phố xông pha,
Giáp môn hàng vạn cờ đà tung bay.
Dựng cột trời, trở bàn tay,
Nước sông rửa sạch mọi bầy tanh hôi.
Đến nay bốn biển hoan hô.
Còn ghi công đức "cầm Hồ" năm nao!


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, mục Thiên chương, trang 196, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977
...
Все пройдет и печаль и радость
Все пройдет так устроен свет
Все пройдет только верить надо
Что любовь не проходит нет ..
15.00
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Việc quan, chơi núi quê nhà,
Muôn dặm ngẩng đầu nhìn là trời cao.
Chim bằng ngoài biển nam vào,
Mặt trời trước núi đón chào phía tây.
Yên Phụ cách trời nắm tay,
Núi Tượng Ðầu chín nghìn sào mẫu đây.
Đỉnh Tử Tiêu, lớp lớp mây
Nhân dịp thăm hỏi An Kỳ tiên nhân.
Sóng Bạch Ðằng cuồn cuộn dâng,
Tưởng tượng thuyền của Ngô Vương tới gần
Nhớ vua Trùng Hưng xưa đời,
Khoảng khắc chuyển đất xoay trời làm nên.
Ngoài biển hàng nghìn chiến thuyền,
Cửa muôn lá cờ lệnh trên ải ngoài
Thế yên tay đặt cõi bờ,
Sông Ngân rửa sạch vết mờ tanh hôi.
Ðến nay cả nước nhớ hồi,
Năm bắt giặc Hồ nhắc rồi khó quên.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời