與陽亭吳台別

三月春濤珥水湄,
出門未解有生離。
自逢歸客連宵話,
倏起他鄉萬里思。
病正多辰終強酒,
情難盡處可無詩。
擬將揮手璘江旦,
不覺灰山欲暮辰。

 

Dữ Dương Đình Ngô đài biệt

Tam nguyệt xuân đào Nhị thuỷ mi,
Xuất môn vị giải hữu sinh ly.
Tự phùng quy khách liên tiêu thoại
Thốc khởi tha hương vạn lý ty.
Bệnh chính đa thìn chung cưỡng tửu,
Tình nan tận xứ, khả vô thi.
Nghĩ tương huy thủ Lân giang đán,
Bất giác Hôi sơn dục mộ thì!

 

Dịch nghĩa

Sóng xuân trong tiết tháng ba nhấp nhô trên dòng sông Nhị
Mới trong cửa bước ra, ta thực không ngờ sắp có cái sầu ly biệt thế này
Từ khi gặp bạn soạn sửa ra về cùng nhau chuyện vãn thâu đêm
Bỗng chốc lòng ta sinh ra nhớ quê nhà ngoài muôn dặm.
Bấy giờ chính là lúc nhiều bịnh, cần phải cố uống rượu cho thật nhiều
Còn như cái chỗ mê tình đã khó tả ra sao cho xiết thì dầu không có thơ cũng chẳng làm sao.
Cứ mãng nghĩ đến lúc cùng nhau hoa tay trên sông Lân kia trong một buổi mai tươi sáng nọ
Mà chẳng biết rằng ở non Hôi (Khôi) này trời đã muốn tối rồi.


Ngô Thế Vinh (1802-1856) hiệu Trúc Đường, Khúc Giang và Dương Đình quê xã Bái Dương, huyện Nam Chân, nay là huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Ông đỗ tiến sĩ năm Kỷ Sửu 1829 (năm Minh Mạng thứ 10), làm quan đến chức lang. Khi làm giám khảo trường thi hương ở Hà Nội, do duyệt quyển không kỹ, nên bị cách chức, ông về quê dạy học và phụng dưỡng mẹ già. Học trò nhiều người thành đạt. Vua Tự Đức thường sai trung sứ đến nhà lấy thơ văn trước tác của ông để dâng vua xem. Sau vua lại gia ơn phục hồi tiến sĩ. Ông soạn tới 72 cuốn. Đồng biên soạn cuốn chuẩn định "Hương Hội thi pháp". Ông đề tựa cuốn "Ức Trai di tập" do Dương Bá Cung soạn. Tác phẩm chủ yếu là sách giáo khoa, có tập "Dương Đình thi văn tập" và "Trúc Đường phú tập". Ngoài ra, Ngô Thế Vinh còn biên soạn sách triết học như "Trúc Đường Chu dịch tuỳ bút", sách sử học như "Tống sử học".

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (4 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Như Thiệp, Nguyễn Văn Đề

Xuân dậy dòng Hồng sóng tháng ba,
Ngờ đâu vĩnh biệt lúc đi ra.
Một đêm gặp bạn bàn về quận,
Muôn dặm xui ai chạnh nhớ nhà.
Lúc bệnh đa mang cần có rượu
Chỗ tình khôn xiết, khá không thơ.
Sông Lân ngày trước cùng vui vẻ
Nào biết non Hôi bóng xế tà.


Nguồn: Nguyễn Văn Siêu, thi ca và tiểu sử, NXB Tân Việt, 1944
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Minh

Bên sông Nhị tháng ba gợn sóng
Lòng se buồn lúc sống xa nhau
Khách đi trò chuyện đêm thâu
Bỗng buồn nghĩ tới nỗi đau dặm ngàn
Mang bệnh vẫn rượu tràn gượng uống
Thơ không làm, tình huống khó bày
Sông Lân định sáng chia tay
Ai dè nắng xế núi Hôi xuống rồi.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Dòng Nhị nhấp nhô sóng tháng ba,
Không ngờ sầu biệt khi bước ra.
Gặp bạn cũ thâu đêm chuyện vãn,
Muôn dặm bỗng sinh nhớ quê nhà.
Bấy giờ đang bịnh, cần uống rượu,
Tình mê khó tả chẳng thơ sao.
Sớm mai chia tay sông Lân nọ,
Nào biết non Khôi bóng xế tà.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Sông Hồng sóng dợn tháng ba xuân
Vừa bước chân đi đã ngập ngừng
Muôn dặm nhớ quê thêm bận bịu
Tròn đêm tiễn khách mãi bâng khuâng
Mê tình âu mượn câu thơ tỏ
Đa bệnh nên chi chén rượu cần
Mai mốt sông Lân chào tiễn biệt
Non Hôi nào biết bóng chiều ngân

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời