遊鎮國寺

金牛潛伏處,
鎮國聳然開。
一自浮雲改,
仙舟不復迴。
湖光依舊在,
客思正悠哉。
日暮樓鐘動,
長歌歸去來。

 

Du Trấn Quốc tự

Kim ngưu tiềm phục xứ,
Trấn Quốc tủng nhiên khai.
Nhất tự phù vân cải,
Tiên chu bất phục hồi.
Hồ quang y cựu tại,
Khách tư chính du tai.
Nhật mộ lâu chung động,
Trường ca “Quy khứ lai”.

 

Dịch nghĩa

Chốn xưa trâu vàng ẩn mình,
Nơi ấy chùa Trấn Quốc mọc lên.
Mọi cảnh vật như mây nổi cứ đổi thay,
Thuyền tiên chẳng quay về.
Sắc hồ vẫn như xưa,
Lòng khách thật man mác thay.
Chiều về chuông trên lầu ngân tiếng,
Hát mãi bài “Quy khứ lai”.


Bài thơ này chép trong Tạp ký 雜記 (ký hiệu A.1716, chưa rõ người soạn và niên đại).

Nguồn: Chùa Trấn Quốc, khảo cứu và tư liệu Hán Nôm, NXB Văn học, 2009

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Trịnh Khắc Mạnh

Nơi trâu vàng ẩn náu,
Trấn Quốc mọc chùa này.
Mây nổi cứ đổi thay,
Thuyền tiên không thấy lại.
Ánh hồ còn như cũ,
Lòng khách man mác hoài.
Chiều hôm chuông gác vọng,
Hát mãi “Quy khứ lai”.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Văn Dũng Vicar

Nơi trâu vàng phục ẩn
Trấn Quốc dựng cao vời
Đời như mây nổi biến
Thuyền tiên chẳng về chơi
Cảnh hồ vẫn như cũ
Tình khách lại chơi vơi
Chiều buông chuông lầu điểm
Hát mãi “Về đi thôi”

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời