獄中感和清老譜來探

沈沈地獄隻身孤,
疇曩親朋一字無。
片語殷勤勞探慰,
和清老譜也村夫。

 

Ngục trung cảm Hoà Thanh lão phổ lai thám

Trầm trầm địa ngục chích thân cô,
Trù nẵng thân bằng nhất tự vô.
Phiến ngữ ân cần lao thám uỷ,
Hoà Thanh lão phổ giả thôn phu.


Tháng 2-1908, Huỳnh Thúc Kháng bị bắt giam riêng một phòng ở nhà ngục Hải Phố (Hội An, người Pháp gọi là Faifo). Cách hai ngày sau, có hai em học trò đem mền áo và quà bánh trình với quan cai ngục xin đưa vào cho ông. Lính gác xét trong số đồ gửi đó có bức thư của người bạn gửi cho, thư viết bằng chữ Hán, thư chỉ hỏi thăm nhưng ngục quan nghi là có gì quan hệ, hai em học trò bị bắt giải giao lên quan tỉnh giam cứu. Từ đó thân nhân và bạn hữu không ai dám tới thăm, gửi đồ. Mà cách giam phòng càng nghiêm ngặt hơn trước, người ở ngoài đều lo cho ông mà không ai dám đến hỏi thăm. Mỗi ngày có người cai mở cửa phòng giam hai lần, chính tay người cai ấy mang đồ ăn vào phòng.

Một bữa, người cai mang cơm trưa vào, mang thêm một gói thuốc hút, quà bánh, và đưa cho ông một miếng giấy nói là của một lão chài gửi. Ông giở ra xem, thấy trong giấy có vài hàng chữ: “Nghe ông bị giam, người nhà ở xa (nhà ông cách đến 2 ngày đường) không ai đến thăm được. Tôi đưa ghe mắm ra bán ở phố đây, kính gửi vật quà thăm ông. Như ông có nhắn người nhà điều gì, tôi sẵn lòng chuyển đạt.” Dưới có mấy chữ: “Hoà Thanh Lão Phổ kính thư.” Xem xong, ông lấy làm ngạc nhiên, không biết “Lão Phổ” là người nào. Nghĩ ngẫm một hồi lâu mới nhớ trong tháng tám năm trước, cùng người bạn đi đò từ Hải Phố về Tam Kỳ, theo đường sông có ghé vào một nhà chài bên sông nghỉ trưa, cùng chủ nhà là một ông già nói chuyện. Ông già chủ nhà có ý lưu luyến nhưng ông phải đi theo đò nên không ngồi lại với ông lâu được, chỉ uống trà xong là từ giã.

Chiều, người cai đem cơm vào, ông hỏi về ông già cho quà, người cai nói: “Lão ghe chài đem mắm ra đây bán, hỏi thăm biết nhà tôi nấu cơm cho ông, ông ấy đến nhà tôi, nói là bà con với ông nhờ gửi quà tặng ông. Ông ấy không nói tên, chỉ dặn tôi nếu ông hỏi thì nói ông năm ngoái có ghé nhà ông ấy uống trà.” Bình sanh giao du bạn hữu nơi nào cũng có, từ khi gặp hoạn nạn, phần đông người quen biết đều tránh xa. Trái lại, một lão nhà chài, chỉ tình cờ gặp nhau trong chốc lát, mà ông chài ấy tìm phương, kiếm nẻo, không từ khó nhọc cố tìm cách gửi lời thăm viếng để an uỷ trong lúc buồn rầu. Rõ là người đời biết nhau không xem tướng bề ngoài. Cảm lòng lão chài, ông làm bài thơ này.

Nguồn: Huỳnh Thúc Kháng, Thi tù tùng thoại, NXB Nam Cường, Sài Gòn, 1951, tr. 6

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (2 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Huỳnh Thúc Kháng

Mình cô, ngục tối, cảnh âm thầm,
Một chữ thân bằng cũng vắng tăm.
Lưa có Hoà Thanh già phổ nọ,
Ân cần gửi thấu bức thư thăm.


Nguồn: Huỳnh Thúc Kháng, Thi tù tùng thoại, NXB Nam Cường, Sài Gòn, 1951
tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Trả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Thân đơn ngục tối âm thầm,
Thân bằng một chữ cũng cầm vắng tanh.
Gặp may già phổ Hoà Thanh,
Ân cần gửi thấu thư thăm quê nhà.

Chưa có đánh giá nào
Trả lời