15.00
Thể thơ: Thể loại khác
Thời kỳ: Trần
3 bài trả lời: 1 bản dịch, 2 thảo luận
Đăng bởi Vanachi vào 18/09/2008 11:12

慈恩寺碑銘并序

(太平省太寧府同海社寺所一碑)

紹寧公主陳建寺於西關,中置所生善惠優婆姨香火堂。起在於辛酉年十一月以壬戌年十二月落成。太子詹事忠靖上侯名之曰:慈恩寺,示不忘本也。

公以某嘗有平昔之雅,且職在文字,謂金石之文非某不可。因伻同來示,使知地之形勢,寺之本末,某敢不庸辭,乃記其實以詔來者。

西關屬古屢鄉,其東則大江一派,自京至于法口,濟淪,㳽灣,浸沿萬頃,逍逍遙遙,若開若闔。迆其東者為費溪,衍其北者為種溪,朕常回環,泓涵停滀,寔為西關慶流所自之地也。豈天施地設,必待扶人之德而後予之耶?何往昔之未聞而創見於今日也。

嗚呼,曾子之言曰:慎終追遠,民德歸厚矣。蓋終者人之所易忽,遠者人之所易忘。維孝子為能慎之,追之,於易忽易忘之際。故其德也而民欲化之而歸於厚矣。

公主以帝姬之貴,不忘其本,每於歲時,與所心之思而西關之地耿耿于懷,往來屢矣。以至觀堂宇之深嚴望松檟之鬱茂。肅然,慄然,慼由感生,乃建道場,觀為四向之所。香斯火斯,鐘斯鼓斯。以佛之慈思所生之慈,以佛之恩思所生之恩。顧其誠心何如耶?安知西關之民耳鐘鼓之音,目道德之懿,豈不亦化之而歸於厚耶?固知斯寺之名誠有補於世教,非特為佛法贊揚而已哉。

銘曰:
西關有寺,
慈恩是名。
名以人得,
寺以孝成。
賢哉帝姬,
孝道純誠。
於斯建寺,
報其所生。
所生學佛,
不昧厥靈。
聞斯鐘鼓,
來享來寧。
帝姬之德,
千載逾馨。
鄉人化之,
厥繫匪輕。
皇風永祝,
佛日常明。
吁嗟後人,
尚監斯銘。

昌符六年歲在壬戌七月中元節前三日。
榮祿大夫守中書令兼翰林學士,奉旨知審刑院事,賜金魚袋,上設軍胡宗鷟撰。
內學生亞下列品朱義方書。
御前雕經內局黎律刻。

 

Từ Ân tự bi minh tịnh tự

(Thái bình tỉnh Thái Ninh phủ Đồng Hải xã tự sở nhất bi)

Thiệu Ninh công chúa Trần kiến tự ư Tây Quan, trung trí sở sinh Thiệu Huệ Ưu-bà-di hương hoả đường. Khởi tại ư Tân Dậu niên thập nhất nguyệt, dĩ Nhâm Tuất niên thập nhị nguyệt lạc thành. Thái tử thiêm sự Trung tĩnh thượng hầu danh chi viết: Từ Ân tự, thị bất vong bản dã.

Công dĩ mỗ thường hữu bình tích chi nhã, thả chức tại văn tự, vị kim thạch chi văn phi mỗ bất khả. Nhân bình đồng lai thị, sử tri địa chi hình thế, tự chi bản mạt, mỗ cảm bất dung từ, nãi ký kỳ thực dĩ chiếu lai giả.

Tây Quan thuộc Cổ Lũ hương, kỳ đông tắc đại giang nhất phái, tự kinh chi vu Pháp Khẩu, tế luân, di loan, tẩm duyên vạn khoảnh, tiêu tiêu dao dao, nhược khai nhược hạp. Dĩ kỳ đông giả vi Phí khê, diễn kỳ bắc giả vi Chủng khê, trẫm thường hồi hoàn, hoằng hàm đình súc, thực vi Tây Quan khánh lưu sở tự chi địa dã. Khởi thiên thi địa thiết, tất đãi phù nhân chi đức nhi hậu dữ chi da! Hà vãng tích chi vị văn nhi sáng hiện ư kim nhật dã.

Ô hô, Tăng Tử chi ngôn viết: “Thận chung truy viễn, dân đức quy hậu hĩ”. Cái chung giả nhân chi sở dị hốt, viễn giả nhân chi sở dị vong. Duy hiếu tử vi năng thận chi, truy chi, ư dị hốt dị vong chi tế. Cố kỳ đức dã nhi dân dục hoá chi nhi quy ư hậu hĩ.

Công chúa dĩ đế cơ chi quý, bất vong kỳ bản, mỗi ư tuế thời, dữ sở tâm chi tư, nhi Tây quan chi địa cảnh cảnh vu hoài, vãng lai lũ hỹ. Dĩ chí quan đường vũ chi thâm nghiêm, vọng tùng giá chi uất mậu. Túc nhiên, lật nhiên, thích do cảm sinh, nãi kiến đạo trường, quan vi tứ hướng chi sở. Hương tư hoả tư, chung tư cổ tư. Dĩ Phật chi từ tư sở sinh chi từ. Dĩ Phật chi ân tư sở sinh chi ân. Cố kỳ thành tâm hà như da. An tri Tây Quan chi dân nhĩ chung cổ chi âm, mục đạo đức chi ý, khởi bất diệc hoá chi nhi quy ư hậu da. Cố tri tư tự chi danh thành hữu bổ ư thế giáo, phi đặc vi Phật pháp tán dương nhi dĩ tai.

Minh viết:
Tây Quan hữu tự,
Từ Ân thị danh.
Danh dĩ nhân đắc,
Tự dĩ hiếu thành.
Hiền tai đế cơ,
Hiếu đạo thuần thành.
Ư tư kiến tự,
Báo kỳ sở sinh.
Sở sinh học phật,
Bất muội quyết linh.
Văn tư chung cổ,
Lai hưởng lai ninh.
Đế cơ chi đức,
Thiên tải du hinh.
Hương nhân hoá chi,
Quyết hệ phỉ khinh.
Hoàng phong vĩnh chúc,
Phật nhật thường minh.
Hu ta! hậu nhân,
Thượng giám tư minh.

Xương Phù lục niên, tuế tại Nhâm Tuất, Thất nguyệt trung nguyên tiết tiền tam nhật.
Vinh lộc đại phu thủ Trung thư lệnh kiêm Hàn lâm học sĩ; phụng chỉ tri thẩm hình viện sự, tứ kim ngư đại, thượng thiết quân Hồ Tông Thốc soạn.
Nội học sinh á hạ liệt phẩm Chu Nghĩa Phương thư.
Ngự tiền điêu kinh nội cục Lê Luật khắc.

 


Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB Khoa học xã hội, 1978

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (3 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Đỗ Hảo, Trần Duy Tôn

(Bia chùa xã Đồng Hải, phủ Thái Ninh, tỉnh Thái Bình)

Công chúa Thiệu Ninh đời Trần, xây dựng chùa này ở đất Tây Quan; trong chùa có nhà hương hoả thời bà sinh mẫu là Thiện Huệ Ưu-bà-di. Bắt đầu khởi công từ tháng 11 năm Tân Dậu. Đến tháng 12 năm Nhâm Tuất hoàn thành. Thái tử thiêm sự tước Trung tĩnh thượng hầu, đặt tên chùa là Từ Ân, để tỏ lòng không quên gốc vậy.

Thái tử cho rằng tôi từng là người nho nhã xưa nay. Vả lại giữ việc về chữ nghĩa; cho nên bài văn khắc vào kim thạch, ngoài tôi ra thì không thể ai biết được. Vì vậy, cùng với người dẫn đường, tôi theo lại xem cho biết hình thế đất, gốc ngọn của ngôi chùa. Tôi đâu dám từ chối, bèn ghi hết sự thật để truyền lại cho đời sau.

Đất Tây Quan thuộc làng Cổ Lũ, phía đông có một nhánh sông lớn chảy từ Kinh đô đến cửa Pháp Khẩu. Nước sông đầy tràn, mênh mông, thấm nhuần muôn khoảnh. Giòng sông lượn, như đóng như mở. Quanh về phía đông là khe Phí, chảy về phía bắc là khe Chủng. Những dòng nước đó thường chạy vòng vèo rồi ngưng đọng lại một chỗ, trở thành đầu nguồn của những dòng nước đẹp ở đất Tây Quan. Cảnh này đâu phải do trời đất xếp đặt, mà phải đợi người có đức rồi sau mới cho chăng? Sao trước chưa từng nghe nói có cảnh này, mà nay lại thấy rõ vậy?

Than ôi! Tăng Tử nói: "Cẩn thận với sự chết của cha mẹ, tưởng nhớ đến tổ tiên đã lâu đời, thì đức của dân sẽ về với lòng trung hậu đó". Nói vậy có lẽ vì đối với cái chết, người ta dễ khinh hốt, đối với tổ tiên đã xa dời, người ta dễ quên, chỉ có người con hiếu mới hay thận trọng và tưởng nhớ đến những điều dễ sơ suất, dễ bỏ quên. Cho nên người có đức đó thì dân sẽ hoá theo mà trở về với điều trung hậu.

Công chúa tuy là dòng dõi cao quý của nhà vua, nhưng vẫn không quên chốn gốc. Hàng năm mỗi khi động lòng tưởng nhớ, thì hình ảnh đất Tây Quan vẫn ngời ngời trong lòng; trở đi trở lại nhiều lần. Kịp đến khi nhìn thấy đường vũ thâm nghiêm, ngắm những cây tùng cây giá tươi tốt. Thấy bâng khuâng lo lắng, cảm xúc sinh ra. Bèn xây dựng chùa, để làm chỗ cho bốn phương trông vào. Này hương này khói, này chuông này trống. Từ lòng nhân từ của đức Phật mà nghĩ đến lòng nhân từ của người sinh ra mình. Từ nguồn ân huệ của đức Phật mà nghĩ đến ân huệ của người sinh ra mình. Lòng thành tâm đến như thế ru! Biết đâu dân đất Tây Quan tai nghe âm thanh của chuông trống, mắt nhìn thấy sự tốt đẹp của nền đạo đức mà lại không hoá theo, để trở về với sự trung hậu chăng? Cho nên, hiểu được tên của chùa như thế là cũng góp phần bổ ích cho giáo hoá ở đời, chứ đâu phải chỉ tán dương Phật pháp mà thôi!

Minh rằng:
Tây quan có chùa,
Gọi chùa Từ Ân.
Tên do người đặt,
Lòng hiếu dựng chùa.
Công chúa hiền thay,
Đạo hiếu rất thành.
Dựng chùa ở đây,
Báo ơn người sinh.
Người sinh theo phật,
Chẳng kém anh linh.
Nghe chiêng nge trống,
Xin về chứng minh.
Đức của công chúa,
Ngàn năm thơm danh.
Dân được cảm hoá,
Quyết không nhẹ tình,
Chúc vua dài lâu,
Phật thường anh minh.
Ôi người đời sau,
Hãy coi bài minh.

Niên hiệu Xương Phù thứ 6, năm Nhâm Tuất (1382), tháng Bảy (3) trước tết Trung Nguyên 3 ngày (ngày 12).
Vinh lộc đại phu giữ chức Trung thư lệnh, kiêm Hàn lâm học sĩ phụng chỉ tri thẩm hình viện sự, từ kim ngư đại trượng thích quân Hồ Tông Thốc soạn.
Nội học sinh á hạ liệt phẩm Chu Nghĩa Phương viết.
Ngự tiền điêu kinh nội cục Lê Luật Khắc.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Từ Ân tự bi minh tịnh tự

Chào bạn Vanachi,
Tôi muốn biết bản chữ Hán 慈恩寺碑銘并序 của Hồ Tông Thốc bạn đã chép lại từ đâu ? So với bản chép tay trong Văn thơ Lý Trần tập III có một số chữ không giống. Bạn có biết bản gốc hiện đang ở đâu, có thác bản không ?

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

nguồn

Bài này mình đã để link nguồn dẫn, nhưng nay có lẽ trang này đã thay đổi nên trang đó không tồn tại.

Đây là trang web dự án đưa các tác phẩm trong Thơ văn Lý Trần lên mạng của đại học An Giang, nhưng không rõ vì lý do gì mà nay đã gỡ xuống. Theo mình hiểu thì những tác phẩm ở trang đó cũng lấy nguồn từ Thơ văn Lý Trần mà thôi, nhưng có thể trong quá trình nhập liệu có sai sót. Hiện tôi không có điều kiện tra lại, những chỗ nào không giống mong bạn chỉ cho.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời