Nước Việt ta hiệu xưng là nước văn hiến, từ khi nhà Đinh dựng nước đến nay, giao hảo với Bắc triều, sứ giả qua lại, ắt dùng những bậc danh sĩ, đại phu. Bởi thế, việc giao tiếp lễ nghĩa, thù đáp thư từ, ứng đối bàn luận cùng với việc ngâm vịnh thơ ca trên đường đi sứ thường khiến cho nhân sĩ Bắc triều sinh lòng kính ngưỡng.

Phàm việc học, không gì trước tiên bằng việc dưỡng khí, một khi có thể dưỡng được cái khí hạo nhiên của mình thì việc ứng xử ở đời, giao tiếp với người, tốt đẹp có thừa, nên việc nhỏ mà lễ lớn. Riêng tôi lấy cái khí cứng rắn bất khuất mà xử việc thời không vì chuyện nhỏ mà tự hạ mình, bởi khí của tôi thường buông thả mà bình sinh có được kiến văn và sở đắc đều do tuỳ sự mà ứng đối. Đó là lý do các bậc công khanh tiếng tăm ở tiền triều biết trọng quốc thể mà không phạm tới cái danh văn hiến.

Năm Nhâm Thân, Gia Long nguyên niên triều ta, thiên hạ đại định, phụng giá đến thành Thăng Long tuyển chọn sứ thần để phụng mạng xem xét cựu điển. Ông Lê Tấn Trai làm chức Binh bộ thượng thư sung làm chánh sứ phái đoàn cầu phong. Phải giữ tôn xưng của nước cũ, lại cầu phong quốc hiệu mới, sự việc vô cùng trọng đại, vì hoàng triều mà đi sứ lần thứ nhất. Tháng 11 năm ấy, ông cầm cờ tiết mà đi, cho đến tháng 12 năm sau, khâm mệnh sứ của thiên triều sang sắc phong, tuy cậy uy thanh, bàn bạc sự việc nhưng ông vẫn làm tròn quốc sự trong chuyến đi sứ, việc làm, thực trạng rành rành có thể kê khảo. Ông khí khái lỗi lạc, chất chứa thì to lớn, phát ra thì xa rộng, nên có thể làm dễ dàng những việc mà người ta thấy là khó. Lúc xuất sứ đến phục mệnh chừng hơn mười bốn tháng mà thơ đến hơn bảy chục bài. Nay đọc thơ ông, ung dung thong thả, suốt tập đều lấy ý ôn, nhu, đôn, hậu, hình ảnh nằm trong lời ngâm vịnh thở than, không tì vết chạm trổ mà khí thơ tự đầy tràn, thật có thể kế thừa tiền nhân mà làm rạng rỡ quốc thể. Phu tử nói rằng: đọc Thi ba trăm bài xuất sứ bốn phương có thể không làm nhục quân mệnh. Phải chăng ông được lời dạy ấy từ Thi chăng? Tôi ngu muội lại nghe nói rằng, văn chương là nguyên khí của trời đất, người được khí ấy có thể sống cùng trời đất. Thế nên, bốn mùa hoà thuận, mưa móc thấm nhuần, là văn của trời; sông suối chảy trôi, núi non uẩn tàng là văn của đất; tổ chức xếp đặt ở giữa để tham tán những điều bất cập của tạo hoá là văn của người; há đâu cứ tranh kỳ lạ, khoe đẹp đẽ trong khoảng thước tấc mà thôi? Ông thuở nhỏ đã có chí anh hào, làm sáng đại nghĩa, ruổi ngựa theo vua cho đến khi lớn lên làm quan thì có thể vượt mọi gian nan phò giúp thành đại nghiệp, là bậc danh thần khai sáng nền trung hưng, lại trải đường xa ngàn dặm để hoàn thành việc nước, ấy là văn vậy, còn gì lớn hơn? Nếu không phải là người có khí độ trôi chảy không ngừng thì làm sao có được như vậy. Nay binh lửa đã ngừng, bốn phương bình lặng, điều mà trông mong nhất ở ông, là trên vì đức nghiệp, dưới vì dân, nhân tài chưa được tiến cử; nền chính trị tốt đẹp chưa làm cho rạng rỡ; giúp đỡ những việc làm có lợi cho nước nhà, thì không việc gì mà không làm, khi làm quan cầm hốt thì chẳng vì uy vũ mà khuất phục, chẳng vì lời bàn nghị mà dao động, vì lo toan thiên hạ vững vàng như núi Thái, sự nghiệp bất hủ muôn năm, ấy gọi là văn của trời ngang đất dọc. Đó là văn hiến của đất Nam ta, chẳng riêng gì bên Bắc triều mới có, nên văn hiến thấm nhuần đến cả mọi người trong nước khiến cho những nhà viết sử đời sau ca tụng vâng theo, cái mà còn lại đến vô cùng ấy là thơ ca chăng? Tôi là bậc tiểu bối, tuy tài hèn thô lậu xin được chấp bút theo hầu ở đây mà làm bài tựa này.

Đầu thu năm Đinh Mão, Gia Long năm thứ 6 (1807), vãn sinh Thanh Hoa, Ngọc Sơn Lê Lương Thận chức Hàn lâm viện chế cáo bái viết ở kinh kỳ.


[Thông tin 1 nguồn tham khảo đã được ẩn]
tửu tận tình do tại