14.00
Ngôn ngữ: Chữ Hán
Thể thơ: Thất ngôn bát cú
Thời kỳ: Trần
6 bài trả lời: 5 bản dịch, 1 thảo luận
4 người thích
Từ khoá: Hạng Vũ (19)
Đăng bởi Vanachi vào 26/05/2006 04:00, đã sửa 3 lần, lần cuối bởi Vanachi vào 04/07/2011 03:17

題項王祠

百二山河起戰烽,
攜將子弟入關中。
煙消函谷珠宮冷,
雪散鴻門玉斗空。
一敗有天忘澤左,
重來無地到江東。
經營五載成何事,
銷得區區葬魯公。

 

Đề Hạng Vương từ

Bách nhị sơn hà khởi chiến phong,
Huề tương tử đệ nhập Quan Trung.
Yên tiêu Hàm Cốc châu cung lãnh,
Tuyết tán Hồng Môn ngọc đấu không.
Nhất bại hữu thiên vong Trạch Tả,
Trùng lai vô địa đáo Giang Ðông.
Kinh dinh ngũ tải thành hà sự?
Tiêu đắc khu khu táng Lỗ Công.

 

Dịch nghĩa

Non nước trăm hai nổi lửa chiến tranh,
Đem đoàn tử đệ vào Quang Trung.
Khói tan nơi Hàm Cốc cung châu lạnh,
Tuyết tan chốn Hồng Môn đấu ngọc vỡ tan.
Số trời phải thua, chạy theo đường Trạch Tả,
Lúc về không còn nẻo để đến Giang Đông.
Năm năm lăn lộn được việc gì?
Chỉ còn được vùi trong mả Lỗ công.


Bài này chép lại trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. Tác giả làm bài thơ này khi phụng mệnh đi sứ sang phương Bắc, qua đền thờ Hạng Vũ.

Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập III), NXB Khoa học xã hội, 1978

 

 

 

Xếp theo:

Trang trong tổng số 1 trang (6 bài trả lời)
[1]

Ảnh đại diện

Bản dịch của Nguyễn Tấn Hưng

Thế hiểm non sông dậy chiến hùng,
Tám nghìn đệ tử tới Quan Trung.
Khói tan Hàm Cốc cung son lạnh,
Ngọc nát Hồng Môn chén vỡ tung.
Trời khiến bại vong lầm tuyệt lộ,
Nẻo về đâu nữa hết Giang Ðông!
Năm năm bá nghiệp trôi giòng nước,
Nấm đất vùi kia dấu Lỗ Công.

Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Về câu thứ 7 trong bài

Bài thơ này có vài dị bản, đại khái là đôi chỗ dùng chữ không giống nhau, nhưng không ảnh hưởng gì lắm, duy có câu thứ 7, chưa thấy bản nào chép là "ngũ tại", Trong Truyền Kỳ Mạn Lục, trong sách của ông Lam Giang đều chép là "ngũ tải", đều dịch là "Năm (5) năm" ("tải" là năm), chớ "ngũ tại" không có nghĩa chi cả. Do người đăng bài chép sai chăng?

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trương Việt Linh

Non nước trăm hai nổi lửa binh
Đem đoàn đệ tử đến Quan Trung
Khói tan Hàm Cốc cung son lạnh
Tuyết vỡ Hồng Môn chén ngọc không
Trời khiến phải thua lầm Trạch Tả
Đất không còn nẻo đến Giang Đông
Năm năm nghiệp bá còn đâu nhỉ!
Nấm mộ vùi chôn dấu Lỗ Công

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Trúc Khê

Non nước trăm hai nổi bụi hồng,
Đem đoàn tử đệ đến Quan Trung.
Khói tan Hàm Cốc cung châu lạnh,
Tuyết rã Hồng Môn đấu ngọc không.
Thua chạy trời xui đường Trạch Tả,
Quay về đất lấp nẻo Giang Đông.
Năm năm lăn lộn hoài công cốc,
Còn được vùi trong mả Lỗ công.

tửu tận tình do tại
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn

Non nước trăm hai lửa tranh hùng,
Đem đoàn đệ tử đến Quang Trung,
Chốn Hồng Môn tuyết tan ngọc vỡ,
Nơi Hàm Cốc tan khói lạnh cung.
Trời khiến phải thua, lầm Trạch Tả,
Nẻo về đâu nữa khỏi Giang Đông.
Năm năm bá nghiệp còn đâu nhỉ?
Còn được vùi trong mả Lỗ công.

Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời
Ảnh đại diện

Bản dịch của Cao Tự Thanh

Non nước trăm hai lửa chiến bùng
Đem đoàn tử đệ tới Quan Trung
Khói tan Hàm Cốc cung châu lạnh
Tuyết rắc Hồng Môn chén ngọc không
Thất bại trời xui đường Trạch Tả
Trở về đất lấp nẻo Giang Đông
Năm năm lao khổ còn bao nả?
Nấm đất con con táng Lỗ công


Nguồn: Việt Nam bách gia thi, NXB Văn hoá Sài Gòn, 2005
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Chưa có đánh giá nào
Chia sẻ trên FacebookTrả lời