Dưới đây là các bài dịch của Phạm Trọng Điềm. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 6 trang (57 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Thân chinh Phục Lễ châu Điêu Cát Hãn (Lê Thái Tổ): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Giặc cuồng dám trốn chết,
Dân biên chờ lâu rồi.
Phản thần từ xưa có,
Đất hiểm tự nay thôi.
Cỏ cây kinh tiếng gió,
Sông núi vào bản đồ.
Đề thơ khắc đá núi,
Trấn phía tây cõi bờ.


Nguồn: Đại Nam nhất thống chí, Quốc sử quán triều Nguyễn, tập 4, trang 375, NXB Thuận Hoá, 2006
Ảnh đại diện

Chinh Điêu Cát Hãn hoàn quá Long Thuỷ đê (Lê Thái Tổ): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Gập ghềnh hiểm hóc chẳng từ nan,
Già vẫn nguyên còn sắt đá gan.
Hào khí nghìn mù đều sạch quét,
Tráng tâm muôn núi cũng bằng san.
Biên phòng tất khéo mưu phương lược,
Xã tắc nên trù kế cửu an.
Ghềnh thác ba trăm đừng nói nữa,
Như nay dòng thuận chỉ xuôi nhàn.


Nguồn: Đại Nam nhất thống chí, Quốc sử quán triều Nguyễn, tập 4, trang 376-377, NXB Thuận Hoá, 2006
Ảnh đại diện

Thân chinh Thái Nguyên châu (Lê Thái Tổ): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Đường xa chẳng quản ngại ra quân,
Chỉ muốn biên phương cứu lấy dân.
Trời đất chẳng dung phường phản tặc,
Xưa nay ai xá tội gian thần,
Trung lương ắt tự giành nhiều phúc.
Bạn nghịch đành khôn giữ chiếc thân.
Sông cạn đá mòn không đổi tiết,
Danh cùng núi ấy vạn năm xuân.


Nguồn: Đại Nam nhất thống chí, Quốc sử quán triều Nguyễn, tập 4, trang 484, NXB Thuận Hoá, 2006
Ảnh đại diện

Đề Thạch Môn sơn Dương Nham động (Lê Quyền): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Sông Trà cao vút núi xinh xinh,
Chùa núp trong cây vạn sắc xanh.
Thang đá hoa leo không vết tục,
Phủi rêu ngồi lắng giọng chim lành.


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977
Ảnh đại diện

Cúc hoa kỳ 6 (Huyền Quang thiền sư): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Phưng phức ngày xuân đoá trắng vàng,
Hợp thời yêu quý sắc cùng nhang.
Phồn hoa các khóm rơi đầy đất,
Bộ mặt giàn đông vẫn nở nang.


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977
Ảnh đại diện

Cúc hoa kỳ 5 (Huyền Quang thiền sư): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Hoa ở giữa sân chủ ở lầu,
Thắp hương ngồi ngắm hết âu sầu.
Chủ nhân cùng vật không tranh cạnh,
So sánh trăm hoa cúc đứng đầu.


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977
Ảnh đại diện

Cúc hoa kỳ 4 (Huyền Quang thiền sư): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Sương móc hơi dương cúc nở hoa,
Trăng trong gió mát thoả lòng ta.
Cười ai không rõ hoa mầu nhiệm,
Hái giắt đầy đầu trở lại nhà.


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977
Ảnh đại diện

Cúc hoa kỳ 3 (Huyền Quang thiền sư): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Dầu thân, dầu thế đã không màng,
Ngồi mãi, buồn tênh một góc giường.
Trong núi năm tàn không có lịch,
Thấy hoa cúc nở biết trùng dương.


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập (tập II: Kiến văn tiểu lục), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977
Ảnh đại diện

Cúc hoa kỳ 2 (Huyền Quang thiền sư): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Ruột héo mong gì nước rửa trôi,
Mai hoa bách vịnh kém xinh tươi.
Tuổi già ngâm hão văn chưa ổn,
Vì cúc, vườn thơ luống rối bời.


Nguồn: Lê Quý Đôn Toàn tập, tập II (Kiến Văn Tiểu Lục, quyển IX Thiền Dật). NXB Khoa học Xã hội. Hà Nội-1977.
Ảnh đại diện

Tảo thu (Huyền Quang thiền sư): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Đêm hơi lạnh lọt bình phong,
Lá cây xào xạc báo chừng thu sang.
Trúc đường quên mới tắt nhang,
Cành cây chăng lưới nguyệt quang luồn vào.


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977

Trang trong tổng số 6 trang (57 bài trả lời)
[1] [2] [3] [4] ... ›Trang sau »Trang cuối