Dưới đây là các bài dịch của Phạm Trọng Điềm. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 6 trang (57 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [3] [4] [5] [6]

Ảnh đại diện

Nam Hải thần từ (Cao Biền): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Mênh mông tám ngàn dặm,
Sóng gió dữ từ xưa,
Tướng sĩ nay Nam tiến,
Muôn chèo nhẹ nhẹ đưa.


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, Thiên chương (Văn thơ, Từ lệnh), Phạm Trọng Điềm phiên dịch và chú thích, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977
Ảnh đại diện

Khiển hứng (Bả trản phi liên tửu) (Cao Biền): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Nâng chén phải đâu vì thích rượu,
Gieo câu nào hám cá cho nhiều
Chỉ vì tính biếng lười, thô lỗ,
Thúc dạ cùng ta cũng một chiều.


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, Thiên chương (Văn thơ, Từ lệnh), Phạm Trọng Điềm phiên dịch và chú thích, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977
Ảnh đại diện

Hoạ Vương Chiêu Phù tiến sĩ “Tặng Động Đình Triệu tiên sinh” (Cao Biền): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Yêu phong cảnh Quân sơn đẹp đẽ,
“Khăn ngà bò” giảng lễ bậc thầy.
Thuốc tiên, gà chó lên mây,
Dạo đàn, rồng cá vui vầy dưới trăng.
Gió muốn cỡi theo bằng đạo sĩ,
Ngọc ai trồng nghiền nghĩ kinh tiên?
Non khe tĩnh mịch ai nhìn,
Động Đình chỉ có con thuyền ngư ông.


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, Thiên chương (Văn thơ, Từ lệnh), Phan Trọng Điềm phiên dịch và chú thích, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977
Ảnh đại diện

Ký Hộ Đỗ Lý Toại Lương xử sĩ (Cao Biền): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Ở ẩn quên phăng mọi việc đời,
Vào thành giấc mộng đã nguôi rồi.
Học tiền bối chữ đề bên nước,
Dạy hậu sinh, châm viết chỗ ngồi,
Khách vịnh thơ về thuyền chở muộn,
Chài say rượu tếch nắng xa soi,
Xuân về chẳng thấy tin trong núi,
Dạo cảnh ven sông vắng bóng người.


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, Thiên chương (Văn thơ, Từ lệnh), Phạm Trọng Điềm phiên dịch và chú thích, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977
Ảnh đại diện

Tống Đại Minh quốc sứ Dư Quý (Phạm Sư Mạnh): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Sứ quân muôn dặm bỗng chia tay,
Chén rượu đưa chân ý nhị đầy.
Non Dũ ngựa dong mai giống tuyết,
Sông Ngô thuyền vượt nhạn dường mây.
Binh nhung cõi Bắc tâu tin thắng,
Văn vận triều Nam lắm bậc hay.
Then chốt giữ gìn khi bái yết,
Công Nghiêu, đức Thuấn gắng tâu bày.


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, Thiên chương (Văn thơ, Từ lệnh), Phan Trọng Điềm phiên dịch và chú thích, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977
Ảnh đại diện

Hoạ Đại Minh sứ Dư Quý kỳ 3 (Phạm Sư Mạnh): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Kiến Khang năm trước vẫn mơ màng,
Muôn dặm con thuyền thuận gió sang.
Nhân vật sáu triều ghi đỉnh núi,
Quan hà trăm trận suốt Tràng Giang.
Thạch Đầu, Thiết Úng, trơ trăng lạnh
Châu Tước, Ô Y, lạt bóng vàng.
Giang Tả, Đại Minh nay vững chãi,
Hồ suy, Hán thịnh việc không thường.


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, Thiên chương (Văn thơ, Từ lệnh), Phạm Trọng Điềm phiên dịch và chú thích, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977
Ảnh đại diện

Tán Giác Hải thiền sư, Thông Huyền đạo nhân (Lý Nhân Tông): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Giác Hải lòng như biển,
Thông Huyền đạo rất huyền.
Thần thông kiêm biến hoá,
Một Phật một thần tiên.


Bản dịch trong "Kiến văn tiểu lục".

Trang trong tổng số 6 trang (57 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ ... [3] [4] [5] [6]