Dưới đây là các bài dịch của Phạm Trọng Điềm. Tuy nhiên, Thi Viện hiện chưa có thông tin tiểu sử về dịch giả này. Nếu bạn có thông tin, xin cung cấp với chúng tôi tại đây.

 

Trang trong tổng số 6 trang (57 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] [6] ›Trang sau »Trang cuối

Ảnh đại diện

Hành dịch đăng gia sơn (Phạm Sư Mạnh): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Núi quê hành dịch trèo qua,
Ngửa trông trời thẳm bao la muôn trùng.
Biển Nam chim lớn vẫy vùng,
Non Đông mừng đón vừng hồng ló ra.
Đỉnh Yên phụ trời xa với được,
Ngọn Tượng đầu nhận ước chín nghìn.
Tử tiêu mây bọc liền liền,
Gặp Yên kỳ hỏi lên tiên đường nào?
Bạch Đằng lồng lộng ba đào.
Tưởng thuyền Ngô chúa thét gào năm xưa.
Trùng hưng nhớ đức hai vua.
Xoay vần trời đất có thừa tài hoa.
Ngàn thuyền Hải phố xông pha,
Giáp môn hàng vạn cờ đà tung bay.
Dựng cột trời, trở bàn tay,
Nước sông rửa sạch mọi bầy tanh hôi.
Đến nay bốn biển hoan hô.
Còn ghi công đức "cầm Hồ" năm nao!


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, mục Thiên chương, trang 196, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977
Ảnh đại diện

Cửu Chân sơn, Tịnh Cư tự, yết Vô Ngại thượng nhân (Thẩm Thuyên Kỳ): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Xứ Thiên Trúc là nơi sinh Phật
Nay phân thân đến đất Nhật Nam.
Thoát vòng phiền não cõi phàm,
Thảnh thơi dưới núi già lam tu hành.
Hương khe nhỏ quấn quanh tháp cũ,
Đá non cao dựng tru nhà chiền.
Chim xanh hầu hạ tham thiền,
Mắt con vượn trắng ghé liền nhòm kinh.
Mây như màn quây quanh vách đá,
Hoa dường lầu ánh toả dưới đầm.
Suối đi thích thú âm thầm,
Nước trong giặt mảnh áo thâm phơi rừng.
Thương đệ tử tài năng kém cỏi,
Tiếc chưa từng học hỏi Y Vương.
Hổ Khê buổi tối vượt sang,
Một cây chống xuống con đường âm u.


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, mục Thiên chương (Văn thơ, Từ lệnh), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977
Ảnh đại diện

Truy tán Vạn Hạnh thiền sư (Lý Nhân Tông): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Vạn Hạnh dung hoà ba giáo lý,
Diễn câu sấm cổ đúng từng ly.
Quê hương Cổ Pháp tên ghi tạc,
Trấn giữ kinh đô gậy trụ trì.


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, mục Thiên chương (Văn thơ, Từ lệnh), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977
Ảnh đại diện

Truy tán Pháp Vân tự Tì-ni-đa-lưu-chi thiền sư (Lý Thái Tông): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Cầm tích trượng qua chơi Nam quốc,
Nghe nhà sư lẩu thuộc đạo thiền.
Mở mang phép Phật thâm huyền,
Cao xa hoà hợp tâm nguyên một màu.
Nguyệt lăng già làu làu ánh sáng,
Thuyền bát nhã thoang thoảng mùi hương.
Bao giờ lại tiếp dung cuông,
Cùng nhau đàm luận mọi đường huyền vi.


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, mục Thiên chương (Văn thơ, Từ lệnh), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977
Ảnh đại diện

Tặng ca giả kỳ 2 (Cao Biền): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Đầy lầu bóng nguyệt đón vui chơi,
Khúc hát Y châu giọng lả lơi.
Trên tiệc sang thu luồng gió thổi,
Tiêu quan nước cạn tiệc vừa thôi.


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, Thiên chương (Văn thơ, Từ lệnh), Phạm Trọng Điềm phiên dịch và chú thích, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977
Ảnh đại diện

Bộ hư từ (Cao Biền): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Người chẳng biết, Thanh Khê đạo sĩ,
Hạc một con mặc ý xuống lên.
Lạnh lùng trước động khoá then.
Chấm pho Chu dịch mài nghiên son già.


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, Thiên chương (Văn thơ, Từ lệnh), Phạm Trọng Điềm phiên dịch và chú thích, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977
Ảnh đại diện

Phỏng ẩn giả bất ngộ (Cao Biền): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Nước trôi hoa rụng vẫn Thiên Thai,
Chếnh choáng, nghêu ngao tự đến chơi.
Ngán nỗi tiên ông đâu vắng tá?
Đầy sân đào hạnh chiếng hoa tươi.


Nguồn: Kiến văn tiểu lục, mục 4 Thiên chương (Văn thơ, Từ lệnh), Lê Quý Đôn toàn tập - tập II, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977, trang 182, Phạm Trọng Điềm phiên dịch và chú thích
Ảnh đại diện

Đối tuyết (Cao Biền): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Hoa bay sáu cánh vào nhà,
Ngồi xem cây trúc hoá ra cành quỳnh.
Lên lầu buông mắt nhìn quanh,
Con đường nhân thế gập ghềnh ngập phăng.


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, Thiên chương (Văn thơ, Từ lệnh), Phạm Trọng Điềm phiên dịch và chú thích, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977
Ảnh đại diện

Sơn Đình hạ nhật (Cao Biền): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Cây xanh, bóng rợp gặp ngày dài,
Chiếu lộn trong ao ánh điện đài.
Rèm động thuỷ tinh hây hẩy gió,
Hoa vi ngào ngạt khắp trong ngoài.


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, Thiên chương (Văn thơ, Từ lệnh), Phạm Trọng Điềm phiên dịch và chú thích, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977
Ảnh đại diện

Tả hoài kỳ 2 (Cao Biền): Bản dịch của Phạm Trọng Điềm

Hoa đầy vườn, nguyệt đầy ao,
Thuyền đưa đàn hát tiêu dao kịp thì
Thoả lòng ao ước đòi khi,
Chinh kỳ cuộn lại, tửu kỳ tung bay.


Nguồn: Lê Quý Đôn toàn tập, tập II: Kiến văn tiểu lục, Thiên chương (Văn thơ, Từ lệnh), Phạm Trọng Điềm phiên dịch và chú thích, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977

Trang trong tổng số 6 trang (57 bài trả lời)
Trang đầu« Trang trước‹ [1] [2] [3] [4] [5] [6] ›Trang sau »Trang cuối